Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland
Página inicialPodcastsNoticias
TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Guardar

Episodios disponibles

5 de 24
  • Nga nướng vũ khí ở Ukraina, Việt Nam lo nguồn cung thiếu hụt
    Lần đầu tiên, Việt Nam tổ chức Triển lãm Quốc phòng Quốc tế 2022 (Vietnam Defence 2022) từ ngày 08-10/12 tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội, để « các nhà sản xuất trong nước và các nhà cung cấp hàng đầu thế giới có cơ hội giới thiệu các hệ thống trang bị, vũ khí, kỹ thuật tiên tiến nhất ngay tại Việt Nam ». Trong số khoảng 29 quốc gia tham dự, có Mỹ, Ả Rập Xê Út, Pháp, Đức và đặc biệt là Nga, nhà cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn cung này khó được bảo đảm trong tương lai do Nga đã sử dụng số vũ khí khổng lồ trên chiến trường Ukraina từ chín tháng qua. Theo thống kê của trang Oryx chuyên theo dõi thiệt hại quân sự trên chiến trường Ukraina, tính đến ngày 06/10/2022, Nga đã mất khoảng 50% số xe tăng tác chiến, 40% số xe bọc thép bộ binh, 1/10 đội bay, hạm đội và hệ thống tên lửa. Có thể thấy, ưu tiên trước mắt của Matxcơva sẽ là bổ sung khí tài cho quân đội. Ngoài ra, khả năng sản xuất sẽ không được bảo đảm do Nga bị phương Tây cấm vận, trong khi nhiều linh kiện điện tử lại chủ yếu nhập từ phương Tây. Trả lời RFI Tiếng Việt, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, trực thuộc trường Đại học New South Wales, Úc, giải thích thêm về hợp tác quân sự Việt-Nga, cũng như việc điều chỉnh chính sách nhập khẩu vũ khí của Hà Nội. RFI : Việt Nam là khách hàng mua vũ khí lớn của Nga với khoảng 75% được nhập từ Nga. Xin anh cho biết, cụ thể Việt Nam nhập những loại thiết bị quân sự nào ? Nguyễn Thế Phương : Hiện tại, thứ nhất do vấn đề lịch sử và thứ hai là do một số vấn đề mang tính kỹ-chiến thuật cho nên hầu như mọi vũ khí, từ lớn đến nhỏ của Việt Nam hiện nay đều nhập từ Nga và một số nước Đông Âu cũ thuộc Liên Xô. Việt Nam đang sử dụng và nhập khẩu hầu như tất cả các loại vũ khí lớn, quan trọng nhất. Ví dụ toàn bộ các loại máy bay trong Không quân Việt Nam đều là các dòng máy bay của Nga. Các tầu chiến của Hải quân Việt Nam từ tầu nhỏ đến tầu lớn, phải nói là 95% đều thứ nhất là có nguồn gốc từ Liên Xô cũ và thứ hai là sản phẩm của các ngành công nghiệp quốc phòng Nga. Về bộ binh, cũng tương tự như các binh chủng khác, các loại vũ khí, khí tài, từ xe tăng, xe bọc thép cho tới các loại vũ khí cá nhân, như súng, đều có nguồn gốc từ Liên Xô hoặc mua từ Nga. Kể từ năm 2019, Việt Nam có kế hoạch « Hiện đại hóa » ngay lập tức một số binh chủng. Trong thời điểm đó, tư duy hiện đại hóa quân đội, vũ khí của Việt Nam cũng được đặt trên nền tảng là Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng các loại vũ khí nhập khẩu từ Liên bang Nga. Nói tóm lại, hiện nay, sự phụ thuộc về mặt vũ khí, khí tài và đặc biệt là sự ảnh hưởng đến quá trình hiện đại hóa của tất cả các binh chủng của quân đội Việt Nam hiện nay đều đặt trong một giả định rằng vũ khí của Nga sẽ là một nền tảng quan trọng cho quá trình hiện đại hóa đó. RFI : Chiến tranh Ukraina đã buộc Nga huy động nhiều loại vũ khí, thiết bị quân sự ra chiến trường và chịu khá nhiều tổn thất. Việc này có ảnh hưởng đến nguồn xuất khẩu của Nga cho các đối tác nước ngoài không ? Và tác động đến Việt Nam như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng cung cấp vũ khí của Nga cho đối tác nước ngoài. Ảnh hưởng thứ nhất là các đối tác nhìn vào tình hình trên chiến trường và đánh giá khả năng của vũ khí Nga. Và trên thực tế, một số loại vũ khí của Nga đã không thể hiện được tiềm năng như Nga đã quảng cáo. Điểm thứ hai, cuộc chiến của Nga ở Ukraina đã khiến cho Nga tốn rất nhiều nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về quân sự. Gần đây, nhìn trên chiến trường, người ta thấy là các loại vũ khí, khí tài của Nga tiêu hao trong cuộc chiến - 6 tháng kể từ tháng Hai cho đến giờ - rất là lớn. Thậm chí, Nga đã phải triển khai một số loại vũ khí mà họ đã niêm cất từ rất lâu. Điều đó chứng tỏ rằng tốc độ sản xuất vũ khí hiện tại của Nga không theo kịp với mức độ tiêu hao vũ khí trên chiến trường. Điều này cũng gây ảnh hưởng tới khả năng của ngành công nghiệp quốc phòng Nga tạo ra thêm vũ khí mới có thể đáp ứng các hợp đồng vũ khí với các đối tác nước ngoài. Yếu tố thứ ba là sau cuộc chiến này, rõ ràng là ngành công nghiệp quốc phòng Nga nói riêng và nền kinh tế Nga nói chung chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi các lệnh cấm vận của phương Tây. Rất nhiều lệnh cấm vận của phương Tây nhắm vào chuỗi cung ứng nguyên nhiên liệu và đặc biệt là công nghệ cho ngành quốc phòng Nga bởi vì phải nói rằng ngành công nghiệp quốc phòng Nga phụ thuộc vào công nghệ phương Tây một phần rất lớn. Họ không hoàn toàn tự chủ 100% công nghệ mà phải nhập một số linh kiện, đặc biệt mang tính công nghệ cao từ các nước phương Tây. Cho nên, việc các nước phương Tây cấm vận khiến cho năng lực sản xuất, cũng như năng lực đổi mới sáng tạo của ngành công nghiệp quốc phòng Nga giảm xuống. Điều này tác động một cách tiêu cực tới việc phát triển các loại vũ khí mới để đáp ứng nhu cầu thị trường vũ khí quốc tế và ảnh hưởng tới những đơn hàng mà Nga đã có với các đối tác nước ngoài. Đó là ba tác động, khá tiêu cực tới viễn cảnh xuất khẩu vũ khí của Nga và tới năng lực của ngành công nghiệp quốc phòng Nga hiện tại. RFI : Anh vừa nêu đến những biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với ngành sản xuất vũ khí của Nga. Về phía Việt Nam, liệu tiếp tục mua vũ khí của Nga, cũng như các dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng và huấn luyện, có gây ảnh hưởng cho Việt Nam không ?  Nguyễn Thế Phương : Điều nay gây ảnh hưởng rất lớn. Nó tạo ra một « cú sốc » cho giới lãnh đạo quân sự Việt Nam bởi vì rõ ràng là với tình hình Biển Đông hiện tại, với nhu cầu hiện đại hóa rất lớn, đặc biệt là với các binh chủng, các quân chủng như Hải quân và Không quân, thì việc quốc gia cung cấp cho mình là Nga vấn đề gây ảnh hưởng cực kỳ lớn tới cấp độ hiện đại hóa quân đội Việt Nam hiện nay đặt trong bối cảnh đối thủ lớn nhất của Việt Nam hiện tại là Trung Quốc có một bước hiện đại hóa cực kỳ nhanh. Điều này khiến cho cán cân lực lượng của Việt Nam ở Biển Đông ngày càng bị kéo giãn ra so với Trung Quốc. Mặc dù từ kỳ Đại hội Đảng năm 2016, Việt Nam đã có một số biện pháp nhằm đang dạng hóa nguồn cung cấp vũ khí nhưng việc nguồn cung vũ khí quan trọng nhất từ nước ngoài là từ Nga bị ảnh hưởng như vậy cũng khiến cho một số kế hoạch, đặc biệt là trong việc hiện đại hóa quân đội hơi bị đảo lộn một chút, hơi bị chậm trễ một chút so với kế hoạch. RFI : Vừa rồi anh nêu chính sách ngoại giao quốc phòng Việt Nam và để giảm phụ thuộc vào Nga, Việt Nam đi theo hướng đa dạng hóa nguồn cung. Hiện giờ, Việt Nam đang hướng đến những nhà xuất khẩu nào ? Nguyễn Thế Phương : Bắt đầu từ năm 2016 và có thể sớm hơn, đối với vấn đề hiện đại hóa và mua sắm vũ khí trang bị, Việt Nam làm đồng thời ba cách tiếp cận. Thứ nhất, Việt Nam cố gắng tăng hạn sử dụng các loại vũ khí cũ, điển hình là đề án hiện đại hóa xe tăng T-54, T-55 mà Việt Nam hợp tác Israel chẳng hạn. Cách thứ hai là Việt Nam cố gắng hiện đại hóa ngành công nghiệp quốc phòng nội địa. Việt Nma có cả chiến lược, cả chính sách đầu tư vào một số trung tâm phát triển quốc phòng mạnh như Viettel để chế tạo một số loại vũ khí, khí tài 100% « made in Vietnam ». Cách thứ ba, vẫn là cách truyền thống, là Việt Nam mua sắm vũ khí của các đối tác nước ngoài, như trao đổi từ đầu là 75% vũ khí là từ Nga. Với cách tiếp cận thứ ba, là nguồn mua sắm vũ khí từ Nga bị giảm thì Việt Nam đang cố gắng tập trung vào hai cách tiếp cận đầu. Còn trong trường hợp mua sắm vũ khí từ nước ngoài, từ 5 năm trở lại đây, Việt Nam đã bắt đầu đa dạng hóa nguồn cung, đặc biệt tập trung vào hai đối tác truyền thống là Israel và Ấn Độ. Đối với Israel, hiện tại, ngoài quá trình nâng cấp một số loại vũ khí cũ, nhờ vào công nghệ của Israel thì Việt Nam mua sắm các loại vũ khí cho Không quân, như các loại tên lửa không đối không, các loại tên lửa không đối đất và nhờ công nghệ của Israel trong quá trình hiện đại hóa một số thiết bị trong cách loại vũ khí của Hải quân. Đối với Ấn Độ, Việt Nam tập trung vào mảng an ninh hàng hải và huấn luyện vì cách đây 5-6 năm, có thông tin là Ấn Độ đã hỗ trợ Việt Nam trong việc huấn luyện cho một số phi công máy bay chiến đấu và đặc biệt là huấn luyện nhân lực cho hạm đội tầu ngầm Việt Nam. Đó là hai đối tác lớn truyền thống. Tại sao lại là Israel và Ấn Độ ? Bởi vì hai quốc gia này cũng là hai quốc gia đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc chế tạo vũ khí có tích hợp công nghệ của cả Liên Xô, cả Nga và phương Tây. Cho nên, hai đối tác đó cũng là những đối tác quan trọng giúp Việt Nam có khả năng tích hợp các loại vũ khí đa hệ, đa nhiệm. Đó cũng là một lý do khiến Israel và Ấn Độ là đối tác đang nổi lên như vậy. Một đối tác tiềm năng nữa trong tương lai chính là một số quốc gia Đông Bắc Á, như Nhật Bản và đặc biệt là Hàn Quốc. Trong khoảng thời gian 2-3 năm trở lại đây, công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc đã trở nên lớn mạnh. Đặc biệt là Hàn Quốc có mối quan hệ rất tốt với Việt Nam và năm 2023, Việt-Hàn nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện. Cũng hy vọng rằng trong tương lai, quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng, đặc biệt là mua sắm vũ khí, khí tài với Hàn Quốc cũng có thể được mở rộng hơn và nâng cấp hơn. Đó là ba đối tác, được gọi là « tiềm năng » và « rất tiềm năng » trong tương lai, giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung vũ khí vượt qua khỏi đối tác truyền thống là Nga hiện nay. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, nghiên cứu sinh tiến sĩ về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, trực thuộc trường Đại học New South Wales, tại Canberra, Úc.
    11/28/2022
    9:36
  • Bỏ điện than để thực hiện cam kết khí hậu: Thách thức lớn đối với Việt Nam
    Làm sao tiến tới từ bỏ điện than để thực hiện các cam với với quốc tế về chống biến đổi khí hậu, đó chính là thách thức rất lớn đối với Việt Nam, trong bối cảnh mà Việt Nam hiện đang phải nhập thêm than để đáp ứng nhu cầu sản xuất điện năng trong nước. Tại hội nghị về biến đổi khí hậu toàn cầu COP27 ở thành phố Sharm El-Sheikh của Ai Cập ( 6-18/11/2022 ), phái đoàn Việt Nam đã “tái khẳng định cam mẽ” cam kết của mình trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.  Trước đó, tại hội nghị về khí hậu COP26 ở Glasgow, Scotland, ngày 04/11/2021, khoảng 40 nước, trong đó có Việt Nam, cùng với nhiều vùng lãnh thổ và nhiều tổ chức, đã cam kết dần dần ngừng sử dụng than đá trong các nhà máy nhiệt điện. Các nước tham gia thỏa thuận này cam kết không đầu tư vào những nhà máy điện than mới ở trong nước và ở nước ngoài. Theo kế hoạch được chính phủ Anh công bố vào lúc đó, các nước giàu sẽ giảm dần sản xuất điện than trong những năm 2030. Thời hạn này sẽ được kéo dài đến những năm 2040 cho những nước nghèo, trong đó có Việt Nam. Cam kết nói trên của Việt Nam được quốc tế lúc ấy rất chú ý, bởi vì Việt Nam hiện là một trong những quốc gia sử dụng điện than nhiều nhất thế giới.  Kể từ khi ký kết hiệp định khí hậu Paris 2015, Việt Nam đã tỏ quyết tâm giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhiên liệu hóa thạch, và trong những năm qua đã đưa ra nhiều biện pháp để cắt giảm lượng tiêu thụ các loại nhiên liệu này.  Nhưng gần đây, chính sách năng lượng của Việt Nam đã thay đổi theo chiều ngược lại, cụ thể là với việc chính phủ Hà Nội thông báo sẽ tăng nhập khẩu than trong vòng 13 năm tới.  Các số liệu cho thấy lượng than tiêu thụ trong nước đã tăng nhanh từ 27,8 triệu tấn năm 2011 lên đến khoảng 53,52 triệu tấn năm 2021, tức là đã tăng gấp 2 lần trong vòng 10 năm.   Theo bản dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp than Việt Nam do bộ Công Thương đưa ra, với nhu cầu sử dụng than tiếp tục tăng, đạt đỉnh vào 2030-2035, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu than để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước. Theo dự báo, nhu cầu sử dụng than của Việt Nam sẽ lên đến khoảng từ 94-97 triệu tấn vào năm 2025 và tăng lên lên đến đỉnh khoảng 125-127 triệu tấn vào năm 2030. Sau đó nhu cầu sẽ giảm dần do nhiều nhà máy nhiệt điện than sẽ dừng hoạt động sau năm 2035, theo lộ trình phát triển ngành năng lượng Việt Nam để đáp ứng mục tiêu giảm khí phát thải. Đến 2045, nhu cầu than sẽ giảm còn 73-76 triệu tấn/năm. Trước mắt, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 9 tháng đầu năm này, Việt Nam đã nhập đến 24,3 triệu tấn than để phục vụ các ngành công nghiệp. Việt Nam chủ yếu nhập khẩu than từ 3 thị trường chính gồm Úc, Indonesia và Nga. Theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cựu viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, hiện nay điện than vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong sản xuất điện năng ở Việt Nam:  “ Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào điện than, cụ thể làvào thời điểm này, xét về mặt công suất các nhà máy, điện than vẫn chiếm gần 50%, phần còn lại tiếp theo là điện khí, mà khí cũng là từ các mỏ trong nước, thế rồi thủy điện cũng còn có một vai trò. Mấy năm gần đây bắt đầu nổi lên điện gió và điện Mặt trời, nhưng tỷ lệ chỉ mới chiếm khoảng 10 hay 15% và việc phát triển còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, trong thời gian trước mắt, điện than vẫn đóng vai trò gần như là chủ lực. Hiện nay than sản xuất trong nước bắt đầu bị “lép vế” so với than nhập khẩu. Than nhập khẩu tăng mãi, lấn át than sản xuất trong nước.  Nhưng mà trong bản gọi là Quy hoạch điện 8 vẫn đề ra mục tiêu đến năm 2050 đạt trung hòa carbon. Muốn như vậy, bản quy hoạch này ghi rõ đến năm 2050, điện than sẽ là zero. Cho nên điện than chỉ tăng cho đến thời gian trước mắt, nhưng sau năm 2045 sẽ giảm dần xuống còn 0, bởi vì điện than hiện nay, tuy chỉ mới ở mức đó thôi nhưng về phát thải khí CO2 chiếm đến 70%. Các năng lượng còn lại là chiếm 30% về phát thải CO2. Nhưng mình lại đưa ra cam kết, mà cam kết này cũng rất đúng, đó là không thể tăng lượng khí phát thải lên”.  Để giảm bớt lượng khí phát thải để thực hiện cam kết về khí hậu, Việt Nam phải tiếp tục phát triển các loại năng lượng khác, nhất là năng lượng tái tạo. Nhưng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, còn nhiều khó khăn trong lĩnh vực này:  “ Dạng điện năng ít khí phát thải nhất vẫn là năng lượng tái tạo. Năng lượng tái tạo của mình như điện gió và điện Mặt trời mấy năm nay phát triển khá mạnh. Bây giờ chúng ta cũng đã bắt đầu phát triển điện gió ngoài khơi, với công suất dự báo là sẽ tăng lên khá nhiều. Nhưng cũng có nhiều khó khăn, ngay cả về mặt pháp lý.  Ví dụ như điện gió và điện Mặt trời ở Việt Nam vài năm gần đây vẫn phải dựa vào giá khuyến khích. Giá khuyến khích là cao hơn giá thông thường, thì các nhà đầu tư mới đầu tư được. Nhưng bây giờ giá khuyến khích lần thứ hai cũng đã hết hạn rồi, trong khi đó rất nhiều đối tác tham gia vào các dự án này. Do đó cơ sở pháp lý phải làm thế nào cho thật tốt để mọi người cùng tham gia thị trường tự do về điện, khuyến khích được các đầu tư, nhưng vẫn bảo đảm được lợi ích của những người tham gia. Cho nên, bước trung gian có thể là phát triển điện khí. Điện khí thì có hai loại, trước hết là khí dẫn từ mỏ về nhà máy, chúng ta có những nhà máy như vậy với công suất cũng là khá lớn. Nhưng nguồn điện năng này cũng rất là hạn chế, vì nguồn mỏ khí ở ngoài biển đâu có nhiều. Do đó phải nghĩ đến chuyện nhập các khí hóa lỏng và xây dựng các nhà máy điện dùng khí hóa lỏng. Coi như là đến năm 2030, điện khí hóa lỏng trong nước có mấy nhà máy lớn, công suất tổng cộng khoảng 7.500 MW. Thế nhưng, sắp tới sẽ có 11 dự án điện khí và khí hóa lỏng, nhập khí hóa lỏng từ bên ngoài vào. Trong mấy năm tới, tổng công suất của chúng sẽ lên đến gần 20.000 MW. Đó sẽ là thành phần chủ yếu trong cơ cấu điện năng.  Ngay cả điện khí hóa lỏng và điện than thì cũng phải cả tiến công nghệ thì mới giảm được lượng khí CO2 và có được hiệu quả sử dụng.  Như vậy, chúng ta cũng có những khó khăn nhất định trong việc bảo đảm được một con đường giảm thiểu khí CO2 theo cam kết trung hòa carbon năm 2050, trong khi đó điện than hiện nay vẫn nắm vai trò chủ đạo.” Cũng theo giáo sư Phạm Duy Hiển, trên con đường từ bỏ dần điện than, Việt Nam có thể áp dụng các công nghệ của những nước tiên tiến, đồng thời phải hoàn thiện về thể chế cho việc phát triển năng lượng sạch: " Ở các nước tiên tiến thì trong sản xuất điện than, có một hướng phát triển mới là than được đốt kèm với sinh khối và amoniac. Việt Nam cũng có kế hoạch sau 2035 sẽ đưa công nghệ này vào, một triển vọng rất lớn. Nhưng, như tôi nói khi nảy, bản thân Việt Nam phải hoàn thiện thể chế về thị trường điện, bởi vì bây giờ có rất nhiều đối tác nhảy vào, ví dụ như để làm khí hóa lỏng. Khí hóa lỏng đó phải được chở bằng những tàu khá lớn, phải có cảng nước sâu, phải có kho chứa.  Những điều này đã có trong kế hoạch của Việt Nam, nhưng bây giờ xây dựng như thế nào và phải làm sao để cho nhiều thành phần có thể tham gia vào thị trường này, mà vẫn bảo đảm được pháp luật và bảo đảm được lợi nhuận của các bên tham gia. Đó là một thách thức nữa của Việt Nam, chứ không chỉ có thách thức về công nghệ. Việc hợp tác với  các nước tiên tiến như các nước G7 phải được đặt ra. Mới đây, ví dụ như Indonesia, qua hội nghị COP 27, đã được các nước tiến tiến hứa giúp thoát khỏi điện than. Chắc là họ phải có những kế hoạch rất cụ thể. Do đó hợp tác với các nước tiên tiến và tận dụng các kỹ thuật của những nước đó là rất quan trọng." Theo trang thông tin QUARTZ của Mỹ, để hỗ trợ Việt Nam trên con đường từ bỏ điện than, đẩy mạnh phát triển các năng lượng tái tạo, các nhà ngoại giao từ các nước trong nhóm G7 gần đây đã đề nghị Việt Nam làm ứng viên cho chương trình “ Đối tác Chuyển tiếp Năng lượng Công bằng”, Just Energy Transition Partnership (JETP), trong thời gian diễn ra COP 27 ở Ai Cập. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có thông báo chính thức nào về thỏa thuận này, do những bất đồng trong nước cũng như bất đồng của quốc tế về vấn đề nhân quyền, nợ quốc gia, tốc độ chuyển tiếp sang năng lượng sạch của Việt Nam và về các vấn đề khác.  Cũng theo trang thông tin QUARTZ, vào đầu năm nay, các nhà ngoại giao của Liên Hiệp Châu Âu và Anh Quốc cũng đã thương lượng với Việt Nam về một thỏa thuận trị giá 5 tỷ đôla để giúp Việt Nam đóng cửa các nhà máy điện than, nhưng Hà Nội vẫn ngần ngại, vì trong thỏa thuận này, Việt Nam phải chấp nhận một khoản nợ công rất lớn, mà Việt Nam thì không muốn phải vay tiền, cho dù được vay với lãi suất ưu đãi đến mức nào.
    11/19/2022
    9:29
  • Xe hơi điện: VinFast muốn chen chân vào thị trường châu Âu
    Với giá từ 43.000 euro, liệu chiếc xe hơi điện đầu tiên “made in Vietnam” có thể chinh phục được thị trường châu Âu? Đó là nước cờ đầy mạo hiểm của VinFast, hãng sản xuất xe hơi của Vingroup, một tập đoàn vốn đã đầu tư vào nhiều ngành khác nhau, từ địa ốc, y tế, viễn thông cho đến giáo dục, giải trí, nay cũng muốn chen chân vào thị trường xe hơi thế giới.  Nhân Triển lãm xe hơi quốc tế Paris 2022 ( 17 đến 23/10/2022 ), VinFast đã giới thiệu bốn kiểu xe hơi chạy điện 100%, đó là các chiếc SUV ( xe thể thao đa dụng) VF 6, VF 7, VF 8 và VF 9. VinFast đã từng tham gia Triển lãm xe hơi Paris lần đầu tiên vào năm 2018, nhưng lần đó chỉ giới thiệu các kiểu xe chạy xăng.  Để chinh phục thị trường châu Âu, VinFast đã tuyển dụng một nhân vật "thâm niên công vụ" trong ngành xe hơi ở châu Âu, đó là ông Jean-Christophe Mercier, nguyên là phó chủ tịch Nissan Europe. Ông được bổ nhiệm làm phó chủ tịch đặc trách hậu mãi khu vực châu Âu cho VinFast Trả lời RFI ngày 22/10 tại Triển lãm xe hơi quốc tế Paris, ông Jean Christophe Mercier nêu lên tham vọng của VinFast trên thị trường xe hơi thế giới:  “ Chúng tôi không chỉ thâm nhập thị trường Pháp, mà còn sẽ có mặt ở châu Âu nói chung, cũng như ở Hoa Kỳ và Canada. Riêng ở châu Âu, chúng tôi nhắm vào ba thị trường, đó là Pháp, Đức và Hà Lan. Đối với chúng tôi, điều quan trọng là tham gia thúc đẩy tiến trình chuyển đổi sang xe hơi điện ở ba thị trường nói trên, những thị trường mà chúng tôi dự kiến sẽ hiện diện lâu dài”.     Ngay sau khi ra đời, VinFast đã liên kết với một trong những trụ cột của ngành chế tạo xe hơi thế giới là BMW để xây nhà máy lắp ráp xe. Sau khi đã cho ra đời các kiểu xe đầu tiên Vinfast LUX A2.0 và SA2.0 dựa trên kiểu xe BMW Serie 5 et X5, nay VinFast chuyển hoàn toàn sang sản xuất xe hơi chạy điện và trước mắt tung vào thị trường châu Âu hai kiểu xe SUV VF 8 ( 5 chỗ ) và VF 9 ( 7 chỗ ). VinFast khẳng định là xe VF 8 khi được sạc đầy pin có thể chạy được từ 420 đến 470 km. Do công ty nổi tiếng của Ý Pininfarina vẽ kiểu, VF 8 có giá từ 46.050 euro, nhưng còn phải thêm tiền thuê pin 120 euro/tháng. Còn nếu mua luôn cả pin thì giá xe sẽ lên tới 62.200 euro, và muốn một chiếc VF 8 loại “cao cấp” nhất, khách hàng phải bỏ ra thêm 7.000 euro, tổng cộng là gần 70.000 euro.  Còn loại VF 9 thì có giá từ 62.750 euro, cộng thêm tiền thuê pin 150 euro/tháng, còn nếu mua luôn pin thì giá xe lên tới 82.950 euro. Còn muốn được một chiếc VF9 cao cấp nhất thì phải bỏ ra thêm 6.000 euro.  Để gây ấn tượng mạnh cho khách hàng châu Âu về hai kiểu xe hơi chạy điện này, VinFast không ngần ngại bảo hành đến 10 năm hoặc 200.000 km, điều chưa từng có trong ngành sản xuất xe hơi thế giới. Cũng chính tại Pháp mà VinFast sẽ mở showroom ở châu Âu, tại đường Malesherbes, Paris.  Ông Jean-Christophe Mercier, phó chủ tịch đặc trách hậu mãi châu Âu, tỏ vẻ tin tưởng là xe hơi điện của VinFast sẽ dàng thu hút khách hàng châu Âu với ba "trụ cột":  “Trụ cột thứ nhất là chất lượng xe của chúng tôi. Trụ cột thứ hai là giá xe phải chăng và trụ cột thứ ba là một dịch vụ hậu mãi ( après-vente) chất lượng rất cao.  Thứ nhất, về chất lượng thì chúng tôi bảo hành xe đến 10 năm, vì chúng tôi tin tưởng vào chất lượng xe của VinFast. Chúng tôi có những đối tác hàng đầu. Bốn chiếc xe được trưng bày ở đây là do một hãng của Ý vẽ kiểu. Chẳng hạn như hai chiếc VF 8 và VF 9 là do Pininfarina vẽ kiểu.  Thứ hai là giá xe mà chúng tôi cho là “phải chăng”. Có ba cách: khách hàng có thể mua toàn bộ chiếc xe, thuê toàn bộ chiếc xe, hoặc chỉ mua xe và thuê pin. Nếu chỉ mua xe và thuê pin thì giá xe tính ra chỉ bằng xe chạy xăng dầu với với đẳng cấp tương tự. Về giá thuê pin thì chúng tôi rất minh bạch với khách hàng: Chẳng hạn như đối với xe VF 8, giá thuê là 120 euro mỗi tháng và trong suốt 10 năm bảo hành  giá thuê sẽ vẫn như thế. Hiếm có mặt hàng nào như vậy mà 10 năm sau giá thuê vẫn không thay đổi.  Thứ ba là một dịch vụ hậu mãi chất lượng cao, bởi vì chúng tôi bảo hành xe trong 10 năm. Chúng tôi sẽ mở tổng cộng 56 cơ sở ở châu Âu trong vòng 12 tháng tới. Cơ sở đầu tiên sẽ được khai trương trong tháng 11 tại Koln, Đức, cơ sở thứ hai sẽ là ở Paris. Nói chung chúng tôi sẽ triển khai rất nhanh và đó là điều rất quan trọng.” Nhưng liệu việc bảo hành một cách hào phóng như thế sẽ đủ để thuyết phục khách hàng Pháp nói riêng và châu Âu nói chung? Rõ ràng là nếu đang có trong tay khoảng 50.000 euro, chúng ta sẽ khó mà quyết định mua ngay một chiếc xe hơi chạy điện "made in Vietnam" của VinFast, trong khi có rất nhiều kiểu xe khác để lựa chọn, nhất là hiện nay trong lĩnh vực thuần túy xe điện, rất khó mà đối đầu với hãng Tesla của Mỹ. Khách đến triển lãm Xe hơi quốc tế Paris 2022 đa số rất ngạc nhiên, thích thú khi lần đầu tiên nhìn thấy những chiếc xe hơi điện "made in Vietnam". Nhưng ngay cả những người không lấy gì làm bất ngờ thì họ cũng còn tỏ ra dè dặt với những chiếc xe của một thương hiệu xa lạ như VinFast, như anh bạn trẻ này:  “ Vì đây là Triển lãm xe hơi quốc tế, nên tôi không lấy làm ngạc nhiên khi thấy có nhiều thương hiệu xe đến từ nhiều nước khác nhau được trưng bày ở đây. Mới nhìn qua xe của VinFast thì cảm tưởng đầu tiên của tôi là tốt, gây ấn tượng cho tôi nhất là đầu xe, về giá thì lúc đầu tôi đoán chắc là trong khoảng 40 đến 50 ngàn euro, nhưng bây giờ mới biết là giá đắt hơn, tức là hơn 60.000 euro. Tôi cũng muốn được chạy thử xe này xem sao, nhưng có quyết định sẽ mua hay không thì còn phải tính đến những yếu tố, như phạm vi hoạt động ( autonomie ) của xe. Về căn bản thì tôi sẵn sàng mua xe hơi chạy điện để bảo vệ môi trường. Xe điện cho dù giá có đắt hơn, nhưng về lâu dài ta cũng tiết kiệm được nhiều so với xe chạy bằng xăng, dầu. Vâng tôi nghĩ đó là một kế hoạch tốt."  Hôm thứ bảy 22/10, ngày mà khách đến Triển lãm đông nhất và cũng là ngày mà VinFast tổ chức nhiều hoạt động văn hóa Việt Nam: múa lân, ca múa nhạc dân tộc, để làm nổi bật hình ảnh Việt Nam qua những chiếc xe điện VinFast. Trong số khách đến khám phá xe VinFast hôm đó cũng có nhiều người Việt, nhưng anh bạn trẻ mà chúng tôi gặp vẫn còn thận trọng với những chiếc xe điện nói chung và những chiếc xe điện "made in Vietnam" nói riêng.  " Em thấy xe có vẻ chất lượng và finition có vẻ tốt. Còn cụ thể bên trong chế tạo như thế nào, động cơ, hệ thống chuyển động thì mở ra mới biết được.    Hiện nay thì em chưa sẵn sàng ( mua xe điện ) bởi vì nhu cầu của em là thỉnh thoảng đi xa, mà xe điện thì chưa đáp ứng được nhu cầu đó. Đầu tiên xe điện thì phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng có đáp ứng được cho mình không, ví dụ như bao nhiêu km thì phải sạc pin và mỗi lần sạc thì mất bao nhiêu thời gian, rồi các trạm sạc có phổ biến không. Thứ hai, sau khi quyết định mua xe điện của VinFast hay của các hãng khác thì còn phụ thuộc vào các hệ thống đại lý, hệ thống bảo hành và hệ thống hậu mãi. Khi mua một chiếc xe điện với giá khá cao thì mình phải quan tâm đến dòng đời của xe, 5,10 năm sau." Thị trường xe hơi chạy điện ở Pháp nói riêng và ở châu Âu nói chung hiện vẫn còn chiếm thiểu số. Chẳng hạn như tại Pháp, trong năm 2021, dân Pháp đã mua tổng cộng khoảng 300.000 xe chạy 100% điện và xe hybrid có thể sạc điện, tức là cứ 5 chiếc xe bán ra thì có gần 1 chiếc là xe điện. Như vậy, xe hơi điện hiện chiếm 18,3% thị trường xe hơi ở Pháp, nhưng giá cao và những khó khăn về sạc pin khiến cho mức tăng không được nhanh như mong muốn của các nhà sản xuất.  Trong một thị trường còn "chật chội " như vậy, VinFast sẽ còn phải đương đầu với nhiều đối thủ đến Trung Quốc, có mặt rất đông đảo tại Triển lãm xe hơi quốc tế Paris vừa rồi, như hãng BYD (Build Your Dreams). Hãng này đã trưng bày toàn bộ những kiểu xe điện sẽ được bán ra ở châu Âu trong những tháng tới. Nằm đối diện với gian trưng bày của VinFast là gian của một hãng Trung Quốc khác là GWM (Great Wall Motor) với hai thương hiệu là Ora và Wey, cũng giới thiệu với công chúng Paris một số kiểu xe điện.  Cho dù thấy xe hơi điện VinFast rất "bắt mắt", hầu hết khách đến gian trưng bày của VinFast đều chờ được lái thử để có thể đánh giá về chất lượng xe hơi điện của hãng này, nhưng họ có sẽ mua hay không thì lại là chuyện khác, vì lúc đó họ còn sẽ phải tính toán, so sánh với xe hơi điện của những hãng khác.
    11/14/2022
    9:11
  • Môi trường : San hô Việt Nam trước nguy cơ bị bức tử
    Vào tháng 6/2022, Ban quản lý vịnh Nha Trang đã ra thông báo tạm ngừng hoạt động bơi, lặn biển tại các điểm lặn xung quanh Hòn Mun kể từ ngày 27/06. Nhưng quyết định này được đưa ra có thể nói là quá trễ, trong bối cảnh mà san hô Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn, nếu không có biện pháp nhanh chóng để bảo tồn.  Ban Quản lý vịnh Nha Trang đã ra quyết định nói trên sau khi báo chí trong nước, cụ thể là tờ Thanh Niên, có loạt bài phản ảnh về sự suy giảm rạn san hô tại vịnh Nha Trang, đặc biệt là vùng lõi biển Hòn Mun. Điều đáng nói là chỉ đến khi báo chí lên tiếng, chính quyền tỉnh Khánh Hòa mới “vào cuộc”, mới quan tâm đến ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học về tình trạng đáng báo động của san hô tại vịnh Nha Trang. Nhưng không chỉ có ở vịnh Nha Trang, ở nhiều nơi khác của Việt Nam, san hô cũng đang bị "bức tử" do chính hoạt động của con người, chẳng hạn như tại vịnh Quy Nhơn. Theo tờ Người Lao Động ngày 04/04/2022, rạn san hô ở Hòn Sẹo, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, đang chết hàng loạt, khiến hệ sinh thái biển nơi này bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tờ báo ghi nhận: “Hệ sinh thái biển khu vực này vốn khá đa dạng, là nơi trú ngụ và sinh sống của nhiều loài thủy hải sản quý, nhưng nay chỉ còn lác đác vài con cá bơi lượn quanh những rạn san hô đã chết.”  Nhiều ngư dân ở xã Nhơn Lý cho rằng sở dĩ san hô ở Hòn Sẹo chết hàng loạt thời gian qua là do một nhóm người từ địa phương khác đến lén lút khai thác vào ban đêm. Trong khi đó, theo Người Lao Động, chính quyền địa phương có vẻ như không hay biết gì. Cho đến khi có bài báo của Người Lao Động, ông Ngô Hoàng Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Quy Nhơn, mới chỉ đạo các phòng, ban liên quan và Ủy ban nhân dân  xã Nhơn Lý “khẩn trương phối hợp với Chi cục Thủy sản Bình Định kiểm tra hiện trạng rạn san hô tại Hòn Sẹo nói riêng và các điểm du lịch khác ở xã Nhơn Lý nói chung". Việt Nam có một bờ biển dài tổng cộng 3.200 km, với nhiều nơi có bãi cát tuyệt đẹp, nước biển trong vắt, thu hút rất nhiều du khách, các vùng biển Việt Nam cũng có những loài sinh vật rất phong phú. Hãng tin AFP vào cuối tháng 6 trích dẫn báo chí Việt Nam cho biết vào năm 2020, khoảng 60% đáy biển sát bờ của Việt Nam vẫn còn được bao phủ bởi san hô sống. Nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ này nay chỉ là 50%. Nhằm mục tiêu giải cứu các sinh vật biển và hồi sinh các rạn san hô bị hư hại tại bờ biển miền trung Việt Nam, anh Lê Chiến đã sáng lập một tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam mang tên Trung tâm Cứu hộ Sinh vật biển ( SASA ). Trả lời RFI Việt ngữ, anh Lê Chiến báo động về tình trạng của san hô Việt Nam hiện nay:  " Việt Nam nằm ở khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới, mà lại trải dài. Đây là điều kiện rất tuyệt vời cho những rạn san hô biển phát triển, được hình thành trên viền những rạn đá ngầm, hoặc là những rạn san hô nguyên thủy, có rất nhiều ở Việt Nam. Chúng ta còn có những rạn san hô barriere, tức là san hô hàng rào chắn ở những hòn đảo. Có thể nói tình trạng san hô tại Việt Nam rất là tồi tệ. Tất cả các san hô biển đều không được bảo vệ, vì chúng không nằm trong khu bảo tồn biển. Hơn 90% rạn san hô ở Việt Nam đều bị hủy hoại nghiêm trọng, bởi con người, bởi khai thác du lịch, bởi xây dựng, bởi biến đổi khí hậu toàn cầu và bởi hành vi khai thác. Còn những rạn san hô trong những khu bảo tồn biển, được bảo vệ, thì rất là nhỏ nhoi. Ở Nha Trang, các báo cáo khoa học đã nêu lên rồi: san hô bị thoái hóa đến 90%.  Theo những nghiên cứu và những quan sát của chúng tôi, trong 5 năm vừa rồi, chúng ta chỉ có một lần duy nhất có hiện tượng gọi là mass bleaching, tức là tẩy trắng hàng loạt san hô vào năm 2020 do nước biển toàn cầu nóng lên quá nhanh, quá lâu. Trong năm 2020, có một khoảng thời gian, nước biển đạt ngưỡng 30, 31 cho đến 31,5 độ C, từ bề mặt cho đến tầng đáy từ 10 đến 15 mét. Hiện tượng này diễn ra khắp miền Trung Việt Nam và không chỉ ở Việt Nam mà còn ở toàn bộ khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Chúng ta đã mất phân nửa diện tích san hô trong toàn bộ khu vực. Nhưng sau đấy, san hô phục hồi rất tốt. Nhưng cho dù tốt cách mấy, tốc độ kiến tạo của san hô cũng không bằng tốc độ hủy hoại của con người.  Ở đây, chúng ta thấy là quá trình xây dựng, các dịch vụ khai thác thủy hải sản dẫn đến việc là tất cả các diện tích san hô của Việt Nam đều bị thu hẹp từng ngày. Tốc độ hủy hoại của con người có thể chiếm từ 60 đến 70%. Ví dụ như trong những rạn san hô bị tẩy trắng hàng loạt mà chúng tôi đã khảo sát, thì chúng tôi thấy là ở đâu đó, các mầm sống vẫn thích nghi được và sau đó sẽ phát triển lên, chỉ trong một, hai năm thôi là có thể tái tạo được 10 đến 20% số lượng bị mất đi. Nhưng cá thể đã thích nghi được với biến đổi như vậy rồi, đến lúc con người tham gia vào, gây các ô nhiễm, ô nhiễm về chất lượng nước, ô nhiễm về rác thải nhựa, những hành vi khai thác đã dẫn đến việc là gần như không còn cơ hội nếu chúng ta tiếp tục như vậy”. Trong bài viết với hàng tựa :” Nghĩa địa san hô của Việt Nam ở Vịnh Nha Trang, một hồi chuông cảnh báo về sự tàn phá của biến đổi khí hậu”, đăng ngày 24/07/2022,  tờ nhật báo Hồng Kông South China Morning Post trích dẫn các nhà khoa học ghi nhận là hiện chỉ còn 1% rạn san hô là “khỏe mạnh”, những rạn san hô còn lại thì đều đối diện với nhiều nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại của chúng.  Tuy nhiên, tờ báo nhắc lại là vào năm 2017, Viện Hải Dương Học ở Nha Trang cho biết là 42% rặng san hô ở bán đảo Sơn Trà, một khu bảo tồn thiên nhiên ở Đà Nẵng, đã bị “xóa sổ” trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2016, mà nguyên nhân là phát triển đô thị ven biển và khai thác thủy sản quá mức.  Vịnh Nha Trang, với 250 loài san hô cứng, từng là một nơi có mức độ đa dạng san hô cao nhất ở Việt Nam. Nhưng các kết quả khảo sát cho thấy san hô ở vịnh này đã bị suy giảm 90% trong vòng chưa tới 4 thế kỷ, từ thập niên 1980 đến năm 2019. Tỉnh ủy Khánh Hòa trong một báo cáo ra ngày 20/06/2022 đã kết luận việc suy giảm rạn san hô tại khu bảo tồn biển Hòn Mun một phần là do tác động của biến đổi khí hậu, do ảnh hưởng của cơn bão Damrey năm 2017 và cơn bão số 9 năm 2021, nhưng một phần là cũng do “nhiều hoạt động của con người tác động lên hệ sinh thái biển vịnh Nha Trang nói chung và rạn san hô tại khu bảo tồn biển Hòn Mun nói riêng vẫn chưa được xử lý kịp thời (khai thác thủy sản trái phép, nạo vét, xây dựng các công trình ven biển không đúng quy định, xả thải từ các hoạt động du lịch,…)”. Theo lời anh Lê Chiến, riêng trong ngành du lịch, gây tác hại nhiều nhất chính là các dịch vụ đi bộ ngắm san hô dưới đáy biển ( sea trekking ) :  “ Khi chúng tôi quan sát thực tế ở khu vực mà chúng tôi làm việc như Đà Nẵng và Nha Trang, thì đều thấy là sự hủy hoại rất khủng khiếp. Thứ nhất là những hoạt động dịch vụ du lịch lặn sâu ở Việt Nam đều không có quy chuẩn. Chúng ta có luật, nhưng chúng ta không có những người quản lý luật đó, chúng ta không có người hành pháp và chúng ta không xử phạt nặng những người dẫm đạp san hô. Một ví dụ đơn giản  : Một nhóm du khách khoảng từ 2 đến 3 người thôi có thể dẫm đạp 100m2 san hô rất nhanh chóng chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Mà để tự nhiên cho san hô phục hồi được thì phải mất 10 năm! Để con người can thiệp vào với tiền bạc và với rất nhiều thứ khác ( để san hô phục hồi ) là phải mất 5 năm! Thứ hai là những dịch vụ mới phát triển gần đây, đó là dịch vụ sea trekking, tức là đi bộ dưới đáy biển, chúng ta được đội một cái mũ để đi bộ ngắm san hô ở đáy biển. Thế thì câu hỏi được đặt ra đó là san hô đó ở đâu? Tại sao mà san hô lại ở trước cửa nhà người ta được? Tất cả những dịch vụ đi bộ ngắm san hô ở Việt Nam đều làm cái việc là khai thác san hô tự nhiên, rồi đưa về, nhưng không làm được cái việc là cố định các cá thể san hô đó, cho nên đến hết mùa, bị sóng đánh bay là nó chết. Họ khai thác cạn kiệt nguồn san hô tự nhiên. Đấy là một trong những yếu tố dẫn đến thảm họa tại Nha Trang: Có quá nhiều dịch vụ ngắm san hô và hầu như chúng ta không có đủ nguồn lực để khống chế việc đó. Họ đi gỡ, bẻ san hô, quật san hô ban đêm…  Rất là nhiều vấn đề. Nói chung, ý thức khai thác của cộng đồng doanh nghiệp rất là kém. Hiện tại ở Nha Trang hay ở Phú Quốc đã có rất nhiều nơi cấm các dịch vụ sea trekking rồi, bởi vì câu hỏi được đặt ra là con giống đó ở đâu ra? Chúng ta đều biết san hô là một loài động vật, chúng ta phải có một trang trại ươm con giống, gọi là coral farming hoặc là coral gardening để tạo ra một con giống bền vững, để giảm tải đối với san hô tự nhiên. Nhưng chúng ta chưa làm được như vậy." Bên cạnh du lịch, ngành nuôi trồng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc làm hư hại san hô ở Việt Nam, theo lời anh Lê Chiến:  “ Tác hại lớn nhất của nó là thức ăn cho thủy hải sản. Chẳng hạn ngành thủy hải sản có thể nói là tiêu biểu nhất ở Việt Nam là nuôi tôm hùm. Thức ăn mà người ta cho ăn bao giờ cũng nhiều hơn lượng thức ăn tự nhiên cần thiết. Lượng thức ăn như vậy sẽ tạo ra lượng hữu cơ dư thừa cực kỳ lớn, tạo ra một cái phân hủy, hút dần oxy trong nước và làm cho cả môi trường xung quanh biến đổi theo chiều hướng rất tệ.  Việc quản lý nuôi trồng thủy sản rất là khó, vì nó liên quan đến sinh kế của người dân. Chính phủ đã có quy hoạch tốt hơn cho 10 tới 20 năm. Chỉ có những khu vực nào mới được nuôi trồng thủy sản. Ở những khu vực đó thì chúng ta phải chấp nhận những rủi ro như vậy. Ở những khu vực khác, dựa trên tính toán dòng nước, tính toán chất lượng nước, không bảo đảm được việc giữ môi sinh chung thì không được làm. Như vậy việc nuôi trồng thủy sản không còn là vấn đề lớn nữa.  Nhưng có một vấn đề ở những nước nhiệt đới như chúng ta, đó là các cơn bão nhiệt đới, hàng năm vẫn có từ 9 đến 12 cơn bão ở miền trung Việt Nam. Đôi khi những chủ lồng bè không phản ứng kịp với những cơn bão như vậy, nên những lồng bè đó bị bão cuốn đi hoặc đánh chìm dưới đáy, càn quét dáy biển, càn quét các rạn san hô. Chỉ cần một hệ thống lồng bè là có thể càn quét bay cả một dãy rạn san hô. Đó là thảm họa mà chúng ta chưa thể nào quản lý được. Phải chờ có những công nghệ như bên Úc chẳng hạn, họ có những hệ thống lồng bè có thể chống chọi được sóng bão. Vấn đề là chúng ta phát triển công nghệ đến đâu.” Trong bài báo đăng ngày 26/07, South China Morning Post cho biết bà Bùi Thị Thu Hiền, điều phối viên Chương trình biển và vùng bờ của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ( IUCN ), đã từng báo động chính quyền thành phố Nha Trang về hiện tượng tẩy trắng san hô hàng loạt, kêu gọi họ phải xét lại cách quản lý san hô. Bà Hiền cho biết các vùng bảo tồn biển của Việt Nam chỉ mang tính hình thức, chứ không có một sự đầu tư thật sự nào. Bà cho rằng sự hỗ trợ của các chính quyền địa phương mang tính chất quyết định cho thành công của các nỗ lực bảo vệ môi trường biển.  Riêng anh Lê Chiến thì đề nghị nên thành lập các khu bảo tồn san hô một cách bền vững:   “ Chúng ta phải nhân rộng khu vực bảo tồn san hô. Khu vực bảo tồn biển là một khái niệm rất rộng: bảo tồn rừng ngập mặn, bảo tồn thảm cỏ biển, bảo tồn rạn san hô, bảo tồn nguồn lợi thủy sản….. Nhưng chúng ta phải thu hẹp nó lại trong khu vực không thuộc khu bảo tồn biển. Đấy là những khu vực mà theo lịch sử đã có những rạn san hô ở đó và vẫn đang tồn tại ở đó, hoặc có thể tái tạo được, bây giờ chúng ta quy hoạch lại thành khu vực bảo tồn san hô.  Ở những khu vực bảo tồn san hô như vậy, chúng ta phải có quy hoạch riêng về cơ sở hạ tầng, quy hoạch riêng về phát triển, nâng cao nhận thức của người dân, thay đổi hành vi khai thác và phải xác định xu thế phát triển kinh tế ở khu vực đó là như thế nào, phát triển du lịch bền vững hay du lịch cao cấp. Bắt buộc phải có những cái như vậy thì việc bảo tồn san hô mới bền vững được.”
    11/7/2022
    9:39
  • Quan hệ Việt - Trung sau Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc
    Sau khi kết thúc Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 20, ngày 23/10/2022, Ban Chấp hành Trung ương mới đã bầu lại ông Tập Cận Bình vào chức tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ 5 năm, nhiệm kỳ thứ ba. Như vậy, ông Tập Cận Bình đã trở thành lãnh đạo có thế lực nhất ở Trung Quốc kể từ thời Mao Trạch Đông. Lãnh đạo ngoại quốc đầu tiên đến gặp ông Tập Cận Bình không ai khác hơn, chính là tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Ông Nguyễn Phú Trọng hôm qua, 30/10/202, đã bắt đầu chuyến viếng thăm Bắc Kinh đến ngày 02/11, theo lời mời của ông Tập Cận Bình.  Trước đó, vào ngày 23/10, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gởi điện chúc mừng Tập Cận Bình nhân dịp ông được bầu lại làm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Trong bức điện này, ông Nguyễn Phú Trọng đã bày tỏ tin tưởng là, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, “ toàn Đảng và toàn dân Trung Quốc nhất định sẽ xây dựng Trung Quốc thành quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa và tươi đẹp.” Lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cho biết “luôn luôn hết sức coi trọng và sẵn sàng cùng với ông Tập Cận Bình đưa quan hệ láng giềng hữu nghị và đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc lên một tầm cao mới”.  Ông Nguyễn Phú Trọng như vậy đã là một trong những lãnh đạo các quốc gia Cộng sản và hậu Cộng sản ( trong đó có Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào và Cam Bốt ) gởi điện chúc mừng ông Tập Cận Bình sau Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc  . Nếu như việc gởi điện chúc mừng lãnh đạo láng giềng mới đắc cử hay mới tái đắc cử là chuyện bình thường, thì việc Hà Nội nhanh chóng thông báo chuyến đi Trung Quốc của ông Nguyễn Phú Trọng là một sự kiện đáng chú ý, tuy không hoàn toàn bất ngờ. Không chỉ là lãnh đạo ngoại quốc đầu tiên gặp tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc tái đắc cử, mà chuyến đi Bắc Kinh lần này còn là chuyến công du ngoại quốc đầu tiên của Nguyễn Phú Trọng kể từ khi ông tái đắc cử tổng bí thư nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp đầu năm 2021. Trên trang Nikkei Asia ngày 25/10, ông Nguyễn Thành Trung, giảng viên thỉnh giảng về Việt Nam học, Đại học Fulbright Việt Nam, nhận định: “ Thời điểm được chọn cho chuyến đi không chỉ là theo mong muốn của phía  Việt Nam, mà còn là theo ý của Trung Quốc. Hai quốc gia gần gũi về ý thức hệ muốn khẳng định là quan hệ của họ vẫn luôn vững chắc. Không có một thời điểm nào thích hợp hơn đối với một lãnh đạo Cộng sản để chúc mừng một lãnh đạo Cộng sản khác vừa tái đắc cử. Việt Nam muốn nhân dịp này xác định Trung Quốc là đối tác ngoại giao quan trọng nhất.” Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 27/10, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: " Chuyến thăm này của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ở Trung Quốc là theo lời mời của chủ tịch nước, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc Tập Cận Bình, tức là không phải do phía Việt Nam đề xuất, mà Trung Quốc là phía chủ động. Điều này có thể là thể hiện phần nào sự coi trọng của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang ngày càng căng thẳng.  Trong bối cảnh cạnh tranh căng thẳng như vậy thì có lẽ là Việt Nam nhận được sự coi trọng từ cả hai phía Trung Quốc và Hoa Kỳ, đặc biệt là từ Trung Quốc. Trung Quốc không muốn Việt Nam xích gần lại quá gần Mỹ. Đây cũng là một dịp phù hợp để Trung Quốc nhắc lại thông điệp này. Điều thứ hai là chuyến đi này cũng phù hợp với truyền thống trao đổi các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên sau mỗi kỳ Đại hội Đảng. Phía Việt Nam tổ chức Đại hội Đảng thì cũng cử các đặc phái viên sang Trung Quốc để thông báo cho các lãnh đạo Trung Quốc về kết quả Đại hội. Tương tự như vậy, nếu Trung Quốc tổ chức các Đại hội Đảng thì cũng sẽ cử người sang để thông tin cho Việt Nam về kết quả Đại hội. Có lẽ là thay vì cử đặc phái viên sang Việt Nam, thì họ mời lãnh đạo Việt Nam sang để trực tiếp trao đổi các thông tin, góp phần thúc đẩy quan hệ song phương, đặc biệt trong bối cảnh từ mấy năm qua đã thiếu vắng các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước do đại dịch Covid-19. Việt Nam có lẽ cũng muốn tận dụng chuyến thăm lần này của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng để giúp tăng cường quan hệ với Trung Quốc, đồng thời thể hiện sự tự chủ chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng căng thẳng.  Trong nước, bản thân ông Nguyễn Phú Trọng có thể muốn sử dụng chuyến viếng thăm này để củng cố vị thế của mình, đặc biệt là sau một thời gian dài sức khỏe của ông có vấn đề. Nếu thực hiện thành công, chuyến đi này sẽ thể hiện hoạt động của ông đã trở lại bình thường, ông có thể đảm nhiệm các nhiệm vụ của mình một cách bình thường, ít nhất là cho tới năm 2026 khi kết thúc nhiệm kỳ của ông." Việt Nam, đặc biệt là về mặt kinh tế, ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc. Theo các dữ liệu của Liên Hiệp Quốc, được Nikkei Asia trích dẫn, trong năm 2020, trao đổi mậu dịch giữa hai nước láng giềng đã vượt qua mức 133 tỷ đôla, tăng hơn gấp ba so với năm 2012, năm mà ông Tập Cận Bình lên làm tổng bí thư khóa đầu. Đặc biệt ngành sản xuất hàng hàng hóa có tốc độ tăng nhanh của Việt Nam phụ thuộc rất   nhiều vào nguồn cung linh kiện điện tử, chi tiết máy và nguyên liệu từ Trung Quốc. Tuy đang gặp những khó khăn kinh tế do vẫn thi hành chính sách Zero - Covid, Trung Quốc hiện vẫn là đối tác  thương mại hàng đầu của Việt Nam. Theo các số liệu chính thức của Việt Nam, trao đổi mậu dịch song phương Việt-Trung đã đạt 132,38 tỷ đôla trong 9 tháng đầu năm nay, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng trong đó có gần 70% là nhập khẩu vào Việt Nam. Việt Nam là đối tác thương mại quan trọng nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN. Ngoài ra, tuy giữa hai Việt Nam và Trung Quốc còn nhiều nghi kỵ và vẫn còn tranh chấp chủ quyền biển đảo, quan hệ giữa hai đảng Cộng sản của Việt Nam và Trung Quốc về mặt chính thức vẫn rất chặt chẽ. Ấy là chưa kể, giống như Tập Cận Bình, ông Nguyễn Phú Trọng đã tiếp tục nắm chức tổng bí thư quá giới hạn thông thường về số nhiệm kỳ. Giống Tập Cận Bình, ông Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng kiêm nhiệm chức chủ tịch nước từ 2018 đến 2021. Với nhiều điểm tương đồng như vậy giữa lãnh đạo hai nước, sau Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần này, quan hệ Việt-Trung sẽ có thay đổi gì lớn không ? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp dự báo:   " Khả năng cao là sẽ không có nhiều thay đổi lớn trong quan hệ hai nước sau Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 20. Quan hệ Việt-Trung sẽ vẫn tiếp tục theo cái đà như lâu nay chúng ta thấy: Hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương, nhất là về kinh tế, tăng cường quan hệ chính trị, trong khi đó thì vẫn tìm cách giải quyết, quản lý tranh chấp Biển Đông, không để quan hệ song phương bị ảnh hưởng bởi tranh chấp này. Việt Nam thì vẫn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, do vai trò rất lớn của Trung Quốc đối với Việt Nam về kinh tế, chiến lược, lẫn ý thức hệ. Chính vì vậy Việt Nam sẽ vẫn tìm cách phát triển quan hệ với Trung Quốc, nhưng đồng thời, như lâu nay, Việt Nam cũng tìm cách tăng cường quan hệ với các đối tác quan trọng khác, trong đó có Mỹ và các đồng minh. Mục tiêu của Việt Nam là tiếp tục chính sách đối ngoại cân bằng giữa các nước lớn, đa phương hóa và đa dạng hóa, để vừa thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc và bảo vệ lợi ích của mình, vừa tránh phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ngược lại phía Trung Quốc sẽ tiếp tục coi trọng quan hệ với Việt Nam, nhưng có lẽ sẽ tiếp tục dùng chính sách "cây gậy và củ cà rốt", vừa ràng buộc dùng kinh tế, vừa dùng các yếu tố ý thức hệ để ràng buộc Việt Nam, vừa răn đe, gây sức ép lên Việt Nam trên vấn đề Biển Đông. Nhưng tôi nghĩ Việt Nam mặc dù có sự liên hệ về ý thức hệ với Trung Quốc, nhưng lại có cách tiếp cận ôn hòa hơn Trung Quốc. Cho nên Việt Nam có lẽ sẽ quan sát, tiếp nhận một số bài học từ Trung Quốc, nhưng sẽ cố bảo đảm cho yếu tố ý thức hệ không ảnh hưởng đến phát triển trong nước, cũng như đến chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc, các nước lớn và các nước khác. Tuy nhiên, Biển Đông vẫn là yếu tố chứa đựng những bất ổn tiềm tàng. Nếu tranh chấp Biển Đông được quản lý tốt thì quan hệ song phương sẽ được phát triển. Còn trong trường hợp tình hình Biển Đông xấu đi thì quan hệ song phương sẽ gặp nhiều trở ngại trong thời gian tới."  Nhưng với việc ông Tập Cận Bình thâu tóm toàn bộ quyền lực, liệu Bắc Kinh sẽ có chính sách cứng rắn hơn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Việt Nam? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp nhấn mạnh: " Đúng là dưới thời ông Tập Cận Bình thì Trung Quốc có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn so với thời của ông Hồ Cẩm Đào, không phải gần đây mà là kể từ năm 2013, lúc ông Tập Cận Bình mới lên cầm quyền. Sự kiện mà chúng ta vẫn nhớ đó là khủng hoảng giàn khoan HD981 năm 2014. Chính sách đối ngoại của Tập Cận Bình nói chung và chính sách Biển Đông nói riêng nếu có vẻ sẽ trở nên cứng rắn hơn thì cũng không phải là điều gì mới mẻ. Tuy nhiên, chính sách cứng rắn đó không phải là cách tiếp cận thường xuyên của phía Trung Quốc, mà Trung Quốc sẽ chọn những thời điểm để có cách tiếp cận phù hợp, lúc thì cứng rắn, lúc thì có thể mềm mỏng, tùy thuộc vào các yếu tố như tình hình khu vực, tình hình nội bộ Trung Quốc, hay tính toán của Trung Quốc đối với Việt Nam trong từng thời điểm cụ thể. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ mong muốn ưu tiên hơn cho mục tiêu duy trì hòa bình trên Biển Đông, tìm cách duy trì các tiếp xúc, đối thoại để quản lý tốt hơn vấn đề Biển Đông. Có lẽ chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng lần này là một phần trong chính sách đó." Không chỉ trên biển, thể hiện qua việc quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông, Trung Quốc nay còn là mối đe dọa cả trên bộ đối với Việt Nam, thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường, và nhất là thông qua việc thực hiện ngày càng nhiều dự án lớn ở hai nước láng giềng của Việt Nam là Lào và Cam Bốt, tranh giành ảnh hưởng với Hà Nội tại hai quốc gia này. Một mặt phải cố duy trì quan hệ tốt với Bắc Kinh, mặt khác Việt Nam phải tiếp tục tăng cường quan hệ với các cường quốc khác, nhất là với Hoa Kỳ, để tạo thế đối trọng cần thiết và cũng để nâng cao khả năng phòng thủ của mình.  Nhưng với một lãnh đạo Trung Quốc có thế lực mạnh hơn bao giờ hết, Việt Nam có thể tiếp tục giữ thế cân bằng trong quan hệ với hai cường quốc đối địch Mỹ - Trung không? Nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp nhận định: " Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng trở nên gay gắt như vậy, không chỉ Việt Nam, mà tất cả các nước trong khu vực đều phải làm sao duy trì được sự cân bằng giữa hai cường quốc này. Đây là một bài toán rất hóc búa, bởi vì động lực cạnh tranh Mỹ-Trung đến từ cả hai phía, cho nên rất khó làm vừa lòng cả hai bên. Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì cân bằng giữa hai bên, và đồng thời phát triển được quan hệ với hai bên.  Tuy nhiên, lợi thế của Việt Nam là do cạnh tranh chiến lược như vậy, do muốn tranh giành ảnh hưởng như vậy, cho nên cả hai bên đều sẽ dành sự quan tâm lớn hơn cho Việt Nam. Nếu như Việt Nam khéo léo thì có thể tận dụng điều đó để mang lại lợi ích nhất định cho mình." Tóm lại, với việc ông Tập Cận Bình nay thâu tóm toàn bộ quyền lực, quan hệ Việt - Trung có thể không có nhiều thay đổi, nhưng tranh chấp chủ quyền Biển Đông sẽ là một thách thức lớn hơn đối với Hà Nội, đồng thời, giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới Hoa Kỳ, Trung Quốc, áp lực lên Việt Nam sẽ càng mạnh hơn.
    10/31/2022
    13:51

Radios similares

Acerca de TẠP CHÍ VIỆT NAM

Sitio web de la emisora

Escucha TẠP CHÍ VIỆT NAM, Los 40 Principales España y muchas más emisoras de todo el mundo con la aplicación de radio.es

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Descarga la aplicación gratis y escucha radio y podcast como nunca antes.

Tienda de Google PlayApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Radios del grupo