Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland
Página inicialPodcastsNoticias
TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Guardar

Episodios disponibles

5 de 24
  • Chính sách quan hệ với Nga : Liên Hiệp Châu Âu và sự « chia năm xẻ bảy »
    Mối quan hệ với Nga là chủ đề chính sách đối ngoại gây chia rẽ nhiều nhất trong Liên Hiệp Châu Âu, chí ít từ năm 2014, sau vụ sáp nhập bán đảo Crimée vào Nga. Và cuộc chiến xâm lăng Ukraina do Nga tiến hành còn làm nổi rõ sự « chia năm xẻ bảy » giữa các nước thành viên trong việc ra các quyết định liên quan đến Nga. Có nên tiếp tục đối thoại với Vladimir Putin hay không như Đức, Pháp và Ý vẫn kiên nhẫn làm, giữ mối liên hệ với hy vọng một ngày nào đó nối lại đàm phán khi chiến tranh kết thúc ? Tại châu Âu, đường lối đối ngoại này ngày một gây chia rẽ. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, với chính sách « ngoại giao điện thoại », đã dành nhiều giờ đồng hồ để điện đàm với đồng nhiệm Nga Vladimir Putin. Kể từ ngày chiến sự bùng phát ở Ukraina, nguyên thủ Pháp đã có 11 cuộc trao đổi và trước đó, còn có nhiều cuộc nói chuyện khác nữa. Nhưng những cuộc gọi định kỳ này, mà lần cuối cùng là hôm thứ Bảy 28/5, với sự đồng hành của thủ tướng Đức Olaf Scholz, đã chẳng làm thay đổi lập trường của tổng thống Nga. Không những thế, đường hướng này của nguyên thủ Pháp còn làm dấy lên nhiều chỉ trích từ nhiều nước thành viên trong khối 27 nước. Ba Lan, các nước vùng Baltic và một số quốc gia khác , trong sâu thẳm, không muốn đối thoại cả với ông Putin lẫn nước Nga, như những gì cho thấy qua việc từ chối cấp visa cho du khách Nga. Những nước này quan niệm rằng « chẳng thể trông đợi được gì không những từ ông Putin, mà còn từ nước Nga, quốc gia chưa bao giờ biết đến nền dân chủ và sẽ không bao giờ biết được. Người ta đẩy nước Nga sang châu Á xa chừng nào tốt chừng ấy », theo như quan sát của ông Pierre Vimont, cựu đại sứ Pháp tại Mỹ, cựu đặc sứ về Nga cho tổng thống Macron, nhân cuộc hội thảo Địa Chính Trị tại Nantes, do Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược tổ chức, với sự cộng tác của Radio France Internationale (RFI). Quan hệ Nga – Liên Âu và sự chia rẽ theo địa lý Xu hướng này được thấy rõ ngay từ cuộc chiến tranh Irak 2003-2004. Vào thời đó, châu Âu chia thành hai phe : Ba Lan và các nước vùng Baltic ủng hộ Mỹ đánh Irak, còn Pháp, Đức cùng với Nga chống cuộc chiến. Mối quan hệ giữa Liên Hiệp Châu và Nga càng thêm khó khăn khi biên giới của khối Liên Âu dần mở rộng sang phía Đông, hình thành một mối tương quan lực lượng mới, dưới sự ảnh hưởng của quá khứ lịch sử và sự cảm nhận về Nga từ những nước láng giềng. Tại hội thảo mang chủ đề « Ngoại giao Pháp đối mặt với xung đột », được tổ chức tại Nantes ngày 23/9/2022, bà Marie Dumoulin, giám đốc chương trình « Wider Europe », thuộc Hội Đồng Đối Ngoại Châu Âu (European Council on Foreign Relations – ECFR) nhấn mạnh, bất chấp năm nguyên tắc cơ bản – và đây cũng là mẫu số chung nhỏ nhất có được – cho phép điều hành các mối quan hệ giữa các nước châu Âu với Nga, nhưng các cuộc tranh luận về chủ đề này trong nội bộ Liên Âu vẫn luôn gay gắt, nhất là kể từ khi Nga sáp nhập bán đảo Crimée năm 2014. Marie Dumoulin : « Tình trạng chia năm xẻ bảy về hồ sơ Nga mà chúng ta thấy trong Liên Hiệp Châu Âu, chúng ta thường có xu hướng xem chúng như là một sự chia rẽ theo địa lý, giữa một bên là những nước Đông Âu, vốn sợ hãi ông láng giềng Nga, chỉ muốn duy trì quan hệ ít chừng nào tốt chừng ấy và nếu có thể, cùng với các nước Bắc Âu đôi khi cũng cùng một nhịp, xây một bức tường lớn để bảo đảm cắt đứt mọi cầu nối, và bên kia là các nước Tây – Nam Âu, có xu hướng thân Nga, hòa giải với Nga hơn. » Nếu như tính chất địa lý, quá khứ lịch sử là những tác nhân gây trở ngại cho việc đề ra một chính sách quan hệ với Nga của một số nước, thì sự chia rẽ này trong khối Liên Âu còn thêm phần phức tạp do những khác biệt trong sự cảm nhận về vị trí của Nga trong chính sách đối ngoại. Marie Dumoulin, còn là một chuyên gia về các nước Đông – Trung Âu, tại hội thảo mà RFI Tiếng Việt có dịp tham dự giải thích : Marie Dumoulin : « Về cơ bản, sự chia rẽ ở đây còn còn do sự cảm nhận của các nước châu Âu về Nga khác nhau thông qua bản chất của mối quan hệ, cũng như là sự cảm nhận của họ về các đối tác lớn khác như Mỹ chẳng hạn, và cảm nhận về chính vị thế của họ tại châu lục và trên trường quốc tế. Đối với một nước như Ba Lan, mối quan hệ với Nga là một vấn đề trọng tâm trong chính sách đối ngoại. Đây có thể cũng là mối bận tâm chính trong chính sách đối ngoại trong mối quan hệ với Đức. Nhưng với Pháp, đó chỉ là một trong số nhiều hồ sơ khác. Đây cũng chính là một chủ đề mang tính quyết định cho phần đông các nước khác, bởi vì Nga là thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Người ta phải nói chuyện với Nga khi muốn bàn về Syria, Iran hay về tất cả các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới. » Chiến tranh Ukraina : Sợi chỉ đoàn kết của khối Liên Âu? Ngoài ra, còn có một yếu tố khác xác định nên mối liên hệ với Nga : Tính đa dạng của các mối quan hệ mà nước này nước kia có thể thiết lập với Nga, không chỉ ở cấp độ nhà nước mà cả trên bình diện xã hội. Đối với nhà nghiên cứu Marie Dumoulin, những mối quan hệ này còn mập mờ hơn cả những gì người ta có thể thấy một cách chính thức trên bình diện chính trị. Marie Dumoulin :« Một nước như Vương Quốc Anh có những phát biểu chính thức hết sức cứng rắn đối với Nga, nhưng mặt khác lại tiếp đón rất nhiều tỷ phú Nga, các khoản đầu tư từ Nga và có một thị trường bất động sản hưởng lợi rất nhiều từ các quỹ đầu tư đến từ Nga. Do vậy, hiện tượng "chia năm xẻ bảy" là cực kỳ phức tạp, đa dạng và ta không thể chỉ tóm gọn trong chia rẽ theo địa lý. » Đương nhiên, cuộc tranh luận về đường hướng đối thoại với Nga không chỉ tựu quanh ở nhóm ba nước vùng Baltic cùng với Ba Lan. Các nước như Ý, Hy Lạp, Malte và Áo, mỗi nước có một mối quan hệ riêng với Nga, có một quan điểm riêng về Nga. Trong một chừng mực nào đó, Pháp và Đức, hai đầu tầu của khối 27, được ví như là điểm cân bằng. Nhưng do chiến tranh Ukraina bùng nổ, thế cân bằng này của hai nước cũng đang có những thay đổi. Cuộc chiến tranh chống Ukraina do ông Putin phát động, ít nhiều cũng làm cho Liên Hiệp Châu Âu đoàn kết lại. Bảy loạt biện pháp trừng phạt kinh tế nhắm vào Nga đã được thông qua. Lần đầu tiên trong lịch sử, khối 27 nước có những biện pháp hỗ trợ quân sự, như cấp vũ khí sát thương, cho Ukraina, quốc gia không nằm trong khối 27 nước. Điểm đáng chú ý khác là Đan Mạch đã thay đổi lập trường, tham gia vào hệ thống phòng thủ chung. Còn Thụy Điển và Phần Lan, cũng quyết định từ bỏ thế trung lập, xin gia nhập Liên minh Quân sự Bắc Đại Tây Dương. Liên Âu trước thách thức từ vũ khí năng lượng của Nga Chỉ tiếc rằng, trong hội thảo, lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là sự phụ thuộc vào nguồn cung khí đốt từ Nga, một vế khác quan trọng không kém trong việc định hình mối quan hệ với Matxcơva, đã không được các chuyên gia nhắc đến. Cuộc chiến xâm lược Ukraina do tổng thống Putin phát động đã làm lộ rõ một sự phụ thuộc quá lớn của khối 27 nước vào nguồn cung dầu khí từ Nga : 48,4% khí đốt và 25,4% dầu hỏa. Đây còn là một chủ đề nhậy cảm cho nhiều nước thành viên, tùy theo mức độ phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga. Nhìn chung, có một sự phân hóa rất rõ nét giữa Đông và Tây trong lĩnh vực này. Trên thực tế, tại 10 nước Đông – Trung Âu (Phần Lan, Estonia, Latvia, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia, Áo, Hungary, Rumani và Bulgari), khí đốt Nga chiếm đến hơn 75% lượng nhập khẩu năng lượng ngoài khu vực Liên Âu. Trong khi Ba Lan, Đức và Thụy Điển có mức độ phụ thuộc nằm trong khoảng 50-75%, thì ngược lại, đối với Pháp, Ý, Hy Lạp, Litva hay nhiều nước Nam Âu khác, tỷ lệ này xuống còn 25-50%. Sự phụ thuộc này khiến Liên Hiệp Châu Âu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một tiếng nói chung để chống cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraina, từ việc cấm vận dầu khí Nga, ngưng cấp visa nhập cảnh cho du khách Nga, đến cả việc giảm 15% mức tiêu thụ khí đốt từ đây đến tháng 3/2023, nhằm tìm cách cắt nguồn tài chính phục vụ cỗ máy chiến tranh của Vladimir Putin. Những nước như Hungary, Cộng hòa Séc hay Slovakia gần như lệ thuộc hoàn toàn vào khí đốt Nga và thiếu một chính sách giảm phụ thuộc như Ba Lan thực hiện, đã phản đối các biện pháp của Liên Hiệp Châu Âu cấm vận dầu khí Nga,  vốn dĩ có nguy cơ đe dọa đến nền kinh tế đất nước. Dẫu sao thì trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng do Matxcơva đang cắt dần các nguồn cung khí đốt và giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng vọt khiến vật giá sinh hoạt leo thang, Liên Hiệp Châu Âu đứng trước nguy cơ trải qua một mùa đông giá lạnh và những rủi ro bất ổn xã hội trong nước như những gì đang diễn ra tại Anh Quốc. Liệu rằng tình đoàn kết, thống nhất mà phần nào Liên Âu có được từ sau cuộc khủng hoảng dịch tễ và trong cuộc đối đầu, chống chiến tranh Ukraina do Nga tiến hành, có bị sẽ  bị bẻ gãy trước vũ khí năng lượng lợi hại của chủ nhân điện Kremlin ? Trả lời cho câu hỏi này, nhà nghiên cứu Marie Dumoulin một lần nữa cho rằng điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Marie Dumoulin : « Các nước khác nhau không chịu tác động từ các hậu quả kinh tế của chiến tranh cùng một kiểu. Họ cũng không bị ảnh hưởng giống nhau do những hệ quả từ các trừng phạt kinh tế. Do vậy, việc duy trì tình đoàn kết ở châu Âu sẽ còn khó khăn hơn nhiều, bởi vì những tình trạng khác nhau ở các nước sẽ ngày càng bất cân xứng. Sự chia rẽ có nguy cơ trỗi dậy tùy theo việc người ta xem cuộc xung đột kết thúc như thế nào ? Lúc nào nên kết thúc và làm thế nào người ta có thể đánh giá là đã đến lúc nên kết thúc ? Liệu họ có đi đến đồng thuận là đã đến lúc nên ngồi vào bàn đàm phán với Nga ? Hiện tại đúng là người ta nói rằng nên để Ukraina quyết định và họ có lý bởi vì chính Ukraina đang trên tuyến đầu và chính lãnh thổ của họ bị xâm chiếm. Nhưng tác động của cuộc chiến đang dần hiện rõ, rất có thể có một số nước muốn thúc đẩy đàm phán hơn nhiều nước khác. Ngoài vấn đề này ra, người ta có cái nhìn như thế nào về tương lai của châu lục, an ninh của châu Âu ? Nên đi cùng với Nga hay là không ? Tất cả những điều đó, tuy vẫn chưa rõ ràng, nhưng mang tính thiết yếu. »
    9/29/2022
    10:50
  • Trưng cầu dân ý, huy động quân dự bị: Putin leo thang chiến tranh Ukraina ?
    Thứ Tư, 21/09/2022, trên truyền hình, tổng thống Nga Vladimir Putin thông báo huy động 300 ngàn quân dự bị và đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến tranh Ukraina. Trước đó một ngày, bốn vùng Ukraina bị chiếm đóng tuyên bố tổ chức trưng cầu dân ý về việc sáp nhập lãnh thổ vào Nga. Sự việc cho thấy cả Nga và phương Tây đều bỏ lỡ cơ hội để chấm dứt cuộc chiến bằng con đường ngoại giao. Vài ngày trước bài phát biểu của tổng thống Nga, luật sư, kinh tế gia, Marcus Stanley, thuộc Viện Quincy tại Mỹ, trong một bài viết đăng trên trang mạng Responsible Statecraft từng lưu ý rằng việc quân đội Ukraina đánh bại quân Nga ở Kharkiv đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến. Cả hai phe phải đối mặt với những quyết định quan trọng:  Nước Nga của ông Putin phải chọn giữa việc từ bỏ câu chuyện viễn tưởng « chiến dịch đặc biệt » và tiếp tục lao vào cuộc chiến với quy mô lớn, một hướng đi đương nhiên sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với những rủi ro cao và sức tàn phá lớn hơn cho cả hai phía. Ở bên kia, liên minh NATO – Ukraina phải quyết định xem họ có nên tận dụng thời điểm này để tìm kiếm một giải pháp đàm phán trong thế thượng phong, hay là chạy theo những rủi ro của một cuộc xung đột còn dữ dội hơn. Giờ đây, với bài phát biểu trên truyền hình hôm 21/9 của ông Putin, câu hỏi đặt ra : Quyết định huy động một phần quân dự bị, thông báo trưng cầu dân ý và lời đe dọa sử dụng hạt nhân của ông Putin phải được diễn giải hay được hiểu như thế nào ? Phải chăng quyết định này dập tắt mọi hy vọng kết thúc chiến tranh bằng đàm phán ? Nhân lực, khí tài : Những sai lầm và thế yếu của Nga Theo giới quan sát, đà tiến quân mạnh mẽ và thắng lợi của quân đội Ukraina ở Kharkiv đã thúc đẩy nguyên thủ Nga đưa ra quyết định như trên. Nhưng sự việc làm lộ rõ những khó khăn về nhân lực, cũng như những sai lầm trong chiến lược của Nga. Ý đồ dồn quân ở phía đông để chinh phục và chiếm giữ thêm nhiều vùng lãnh thổ đã gặp thất bại. Theo Marcus Stanley, nguyên nhân đơn giản chỉ là Nga không còn đủ quân để có thể trấn giữ một chiến tuyến dài hơn 1.000 km trải dài từ biên giới phía bắc với Nga đến vùng Biển Đen ở phía nam Ukraina. Với quân số 200 ngàn người lúc ban đầu, lực lượng Nga đã bị suy yếu dần cùng với cuộc chiến do những thiệt hại nhân mạng quá lớn. Nga chỉ đủ quân để kháng cự với các cuộc phản công của Kiev ở một vài vùng, như việc đẩy lùi được cuộc tấn công của quân đội Ukraina ở Kherson chẳng hạn. Một chi tiết khác đáng chú ý cũng được ông Marcus Stanley nêu lên: dường như nhiều lực lượng của Nga trong vùng chỉ là những hiến binh quốc gia Rosgvardia, chủ yếu là các lực lượng cảnh sát không được đào tạo để chiến đấu trên chiến trường. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực đương nhiên đặt ra một vấn đề cơ bản : Chiến lược của Nga khi tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế, chỉ là « một chiến dịch quân sự đặc biệt » mà không huy động lính nhập ngũ hoàn toàn cũng như là không tổng động viên, có thể trụ được bao lâu ? Nga đã sai lầm khi đánh giá thấp quyết tâm kháng cự của người Ukraina, và không ngờ rằng sáu tháng sau, Ukraina, với sự trợ giúp của NATO, đã trở thành một đối thủ quân sự đáng gờm. Một điểm bất lợi khác cho Nga là, trong cuộc chiến dài hơi này, Ukraina – với một nền kinh tế được phương Tây hậu thuẫn mạnh mẽ về mặt tài chính, nhất là các khoản vay từ Mỹ với lãi suất hàng năm tương đương với GDP trước chiến tranh – có thể toàn tâm tổng động viên dân chúng. Do vậy Ukraina có thể triển khai đông quân hơn Nga, vốn chỉ huy động được một phần. Trên phương diện khí tài, Ukraina được Mỹ và các nước phương Tây hậu thuẫn với một mức GDP cao gấp 20 lần so với Nga. Theo quan điểm của ông Marcus Stanley, rõ ràng đây không phải là một cuộc xung đột mà Nga có thể thắng nếu không có một sự huy động rộng lớn hơn. Từ góc nhìn này, chuyên gia về quốc phòng và an ninh Emmanuel Dupuy, Viện Nghiên cứu Triển vọng và An ninh ở Châu Âu (IPSE), trên đài truyền hình TV5Monde, cho rằng « đây là một sự leo thang bởi vì sẽ có nhiều lính Nga chiến đấu trên lãnh thổ Ukraina hơn. Nhưng đó còn là một lời thừa nhận yếu kém, bởi vì cùng lúc, Vladimir Putin tuyên bố chỉ huy động  300 ngàn quân, trong khi có trong tay hai triệu quân dự bị ». Huy động binh sĩ và những rủi ro chính trị cho V. Putin Nhưng khi chọn leo thang quân sự, chủ nhân điện Kremlin có thể sẽ thu được gì vào lúc NATO và Mỹ không ngừng chi viện cho Ukraina và các cuộc phản công vẫn tiếp diễn ? Liệu nước Nga có thể tăng mạnh được khả năng quân sự khi huy động mọi nguồn lực và khi thực hiện một nỗ lực lớn để chuyển đổi ngành công nghiệp dân sự cho mục tiêu quân sự vào thời chiến hay không ? Những câu hỏi trên được đặt ra còn cho thấy rằng tổng thống Nga Vladimir Putin đang đối mặt với áp lực từ mọi phía. Ở trong nước, một mặt chủ nhân điện Kremlin không thể ban hành lệnh tổng động viên, một quyết định rất có thể tước mất nguồn hậu thuẫn từ người dân mà ông có được cho đến nay và nhất là có nguy cơ bị chia sẻ quyền lực. Đây thật sự là một rủi ro chính trị to lớn cho ông Putin. Mặt khác, tổng thống Nga đối mặt với những lời chỉ trích gay gắt từ cánh hữu « diều hâu » mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân tộc, đòi gia tăng nỗ lực chiến tranh. Nhưng điều đáng lo là, ngoài việc leo thang quân sự theo quy ước, Nga rất có thể chuyển qua sử dụng vũ khí chiến thuật hủy diệt hàng loạt tại Ukraina và các lực lượng NATO có thể trực tiếp tham chiến. Marcus Stanley cho biết, một báo cáo mới đây có tiêu đề « Cái giá của chiến tranh » do trường đại học Brown thực hiện lưu ý, chính sự thua kém của các lực lượng quy ước Nga so với NATO sẽ thúc đẩy nước này dựa vào vũ khí nguyên tử và sự phụ thuộc vào loại vũ khí này còn được nhân rộng hơn nếu Nga gặp một thất bại quân sự quy ước. Rủi thay, mối lo này có nguy cơ biến thành hiện thực. Trước đà tiến của Ukraina và rủi ro mất lại nhiều vùng chiếm đóng, chính quyền thân Nga tại bốn vùng Kherson, Luhansk, Zaporijjia và Donetsk thông báo tổ chức trưng cầu dân ý về việc sáp nhập vào Nga. Đây còn là một bước đệm để Nga biện minh cho việc triển khai và sử dụng vũ khí hạt nhân, theo như phân tích của Cyril Gloaguen, từng là tùy viên quân sự tại Nga và Turkmenistan, chuyên nghiên cứu về địa chính trị, trường đại học Paris VIII, trên đài RFI. Cyril Gloaguen : « Các lực lượng quân đội Nga, nhìn theo quan điểm quy ước, giờ đang trong thế thủ. Quân đội Ukraina đang giành chiến thắng trên địa bàn và trước tình hình này, chỉ còn một giải pháp. Trên thực tế, đó là phải bảo vệ các vùng lãnh thổ Ukraina đã bị chiếm đóng hay những phần lãnh thổ Ukraina hiện do quân đội Nga kiểm soát. Việc củng cố các tuyến phòng thủ này sẽ được thực hiện bằng cách chuyển các vùng đó qua quyền tài phán của Liên bang Nga nhờ vào phương cách trưng cầu dân ý. Tại sao ư ? Bởi vì, lý do đơn giản và an toàn nhất chính là khi những vùng này của Ukraina trở thành của Nga, một cách tự động, chúng sẽ được đặt dưới sự bảo vệ bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật. Điều này cũng tương tự cho bán đảo Crimée. » Trang mạng báo Mỹ New York Times, ngay khi có thông báo tổ chức trưng cầu dân ý, ghi nhận, từ lâu giải pháp này được đặt ở hàng thứ yếu trong chiến lược xâm chiếm Ukraina vì ông Putin cho rằng những vùng này là phần lãnh thổ hợp pháp của Nga. Nhưng thắng lợi của Ukraina tại Kharkiv buộc ông phải ra tay hành động. Cũng theo nhật báo Mỹ, những biện pháp này được đưa ra vào lúc ông Putin phải đối mặt với những thất bại không những trên chiến trường, mà cả trên trường quốc tế. Vũ khí hạt nhân hay vũ khí sinh học ? Tại thượng đỉnh Samarkand, Uzbekistan, hai ngày 15-16/09/2022, chủ nhân điện Kremlin lần đầu tiên phải thừa nhận mối « bận tâm » về cuộc chiến của Trung Quốc và Ấn Độ, hai nguồn hậu thuẫn quan trọng cho kinh tế Nga trong bối cảnh bị phương Tây trừng phạt. Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, Recep Tayyip Erdogan, nhiều lần giữ vai trò trung gian trong cuộc xung đột, hôm thứ Hai 19/9, cũng tuyên bố rằng cuộc xâm lược Ukraina là vô cớ và Nga nên trao trả những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Trong bối cảnh này, theo quan điểm của ông Cyril Gloaguen, mọi việc đang rơi vào bế tắc. Tổng thống Nga đang gây áp lực cả với Kiev và phương Tây, khi dọa rằng nếu Ukraina đặt chân vào những vùng lãnh thổ hiện do quân Nga kiểm soát « có nguy cơ » hứng chịu một cuộc tấn công hạt nhân từ Nga. Tuy nhiên, vị chuyên gia này lưu ý, giữa lời nói và hành động còn có một khoảng cách khá xa. Ông giải thích : « Ở đây cần phải hiểu một điều quan trọng, đó là trong thời bình, bộ tham mưu của lực lượng hạt nhân Nga, ở ngoại ô Moscow, không được liên kết bằng hệ thống truyền dẫn với lực lượng hạt nhân. Đó là một biện pháp an ninh. Ví dụ như trong các cuộc tập trận hàng năm, có một cuộc tập trận hạt nhân chiến lược mang tên Grom. Trong quá trình diễn tập, bộ tham mưu sẽ kiểm tra các đường truyền với các đơn vị khác nhau được đặt trên toàn lãnh thổ Nga. Đây là điều hết sức quan trọng cần lưu ý, do đó, có diễn ngôn, có tuyên truyền và có thực tế của sự việc. Khi đe dọa như vậy, Vladimir Putin biết rất rõ rằng NATO có khả năng phát hiện sự kích hoạt các đường truyền từ các trung tâm của bộ tham mưu lực lượng hạt nhân Nga, điều quan trọng là ông ấy biết điều đó. Đây vừa là phát ngôn dành cho NATO, hướng đến Ukraina, và lẽ tự nhiên còn hướng đến người dân Nga. Điều quan trọng là phải thể hiện sức mạnh của ông ấy và bài phát biểu này, vốn dĩ luôn dựa trên vũ lực, sức mạnh hạt nhân, đã có tác động to lớn đến cuộc tranh luận chính trị ở Nga. » Hầu hết giới chuyên gia cũng như bản thân tổng thống Ukraina đều không tin vào khả năng chủ nhân điện Kremlin sử dụng vũ khí hạt nhân để đối phó với Kiev như đòi hỏi của phe diều hâu Nga. Dù vậy, nhà nghiên cứu Emmanuel Dupuy, trên đài TV5Monde, cảnh báo mối nguy vũ khí hóa học, một « hiểm họa cần phải được xem xét nghiêm túc » theo như tuyên bố của tổng thống Mỹ Joe Biden trong bài phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Tóm lại, phải chăng đây chính là cách để ông Vladimir Putin « chấm dứt nhanh nhất » chiến tranh như lời thuật lại từ người đồng nhiệm Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan khi trả lời phỏng vấn kênh truyền hình PBS của Mỹ hôm 19/9 ?
    9/22/2022
    10:40
  • Ukraina : « Blogger – diều hâu Nga », con dao hai lưỡi cho cỗ máy tuyên truyền của Putin ?
    « Chúng ta đã thua. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian ». Lần đầu tiên kể từ khi phát động cuộc chiến, tổng thống Vladimir Putin đối mặt với những chỉ trích mạnh mẽ từ cả hai phía chống và ủng hộ chiến tranh. Nhưng sự giận dữ của phe diều hâu tại Nga còn làm nổi rõ vai trò của các « blogger » được điện Kremlin và quân đội Nga dung túng để cổ vũ cho luận điệu hiếu chiến chống Ukraina. Quân đội Nga và những khiếm khuyết Thứ Bảy 10/09/2022, trong buổi họp báo thường nhật có tên là « Điểm tình hình về những tiến triển của chiến dịch quân sự đặc biệt », phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Nga đã phát biểu: « Để đạt được các mục tiêu được đặt ra cho chiến dịch quân sự đặc biệt để giải phóng Donbass, quyết định đưa ra là dồn các đội quân đóng tại vùng Izium về chi viện cho Donetsk. Để tránh các thiệt hại cho các đạo quân, một cuộc oanh kích dữ dội bằng tên lửa và đại pháo đã được giáng xuống kẻ thù. Trong vòng ba ngày, hơn hai ngàn lính Ukraina và nước ngoài, cũng như hơn 100 xe thiết giáp và đại bác đã bị tiêu diệt. » Phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh những hình ảnh trên các mạng xã hội ở Nga phô bày một thực tế phũ phàng : Quân đội Nga tháo chạy, bỏ lại nhiều phương tiện, vũ khí, đạn dược cho kẻ thù. Theo giới quan sát tại Pháp, sự thất bại này đã làm lộ rõ các khiếm khuyết trong quân đội Nga : Tình báo yếu kém, tham nhũng, thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng, thậm chí thiếu tinh thần chiến đấu … Pierre Servent, đại tá dự bị, chuyên gia về quốc phòng, lưu ý điều đó không có nghĩa là chiến tranh sẽ sớm chấm dứt, khả năng đánh phá của quân đội Nga vẫn còn đáng kể. Trên đài France Culture, ông nhắc lại : « Từ đầu cuộc chiến đến nay, mỗi lần ông Putin gặp thất bại quân sự, ông ấy cũng đã hứng lấy một vài đòn, thì ông ấy luôn có cùng một kiểu hành xử :  Trừng phạt bằng cách đánh sâu vào lãnh thổ Ukraina nhắm vào các mục tiêu dân sự và đe dọa dùng vũ khí hạt nhân. Trong vài ngày tới, ông ấy thế nào cũng đưa ra một loại tên lửa hạt nhân chiến lược mới, hay nâng mức báo động hạt nhân mới… » V. Putin đối mặt với cả « Bồ câu » lẫn « Diều hâu »  Tuy nhiên, giới quan sát phương Tây đặc biệt lưu ý đây là lần đầu tiên tổng thống Vladimir Putin bị một bộ phận chính giới Nga, từ tả đến hữu, chỉ trích mạnh mẽ là đã « tiến hành một chiến lược chiến tranh tồi tệ ». Phe chống chiến tranh kêu gọi phế truất tổng thống Putin vì tội « phản quốc », theo như một kiến nghị do nhóm tám dân biểu ở Saint – Petersbourg đề xướng. Họ cho rằng Vladimir Putin đã phản bội đất nước và phản bội dân tộc Nga. Đương nhiên, đòi hỏi này khó thể thực hiện, do việc đảng Nước Nga Thống Nhất của ông Putin vẫn chiếm đa số ở Quốc Hội. Nhà chính trị học Anna Colin Lebedev, chuyên gia về các xã hội hậu Xô Viết, ví lời kêu gọi đó can đảm chẳng khác gì như một hành động « kamikaze – tấn công tự sát », trong bối cảnh những tiếng nói chống chiến tranh, chống sự cai trị độc tài của ông Putin ngày càng ít. Điều thật sự gây ngạc nhiên đó là những lời chỉ trích gay gắt đến từ chính phe "diều hâu", những người ủng hộ điện Kremlin và cuộc chiến chống Ukraina. Theo tờ New York Times của Mỹ, sự giận dữ của phe diều hâu cho thấy, dù tổng thống Nga có bịt được miệng mọi phe đối lập ủng hộ tự do và dân chủ, thì ông vẫn bị sự bất bình từ cánh bảo thủ nhất đe dọa. Những người này chê trách tổng thống Nga quá mềm yếu, đòi hỏi phải có hành động triệt để hơn. Chuyên gia về Nga, bà Tatiana Kastouéva – Jean, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp (IFRI), trả lời báo Les Echos nhận định vào lúc này có căng thẳng trên thượng tầng lãnh đạo ở Matxcơva. « Khó thể biết được ông Putin đang nghĩ gì, nhất là khi ông ấy bị đặt trước sự đã rồi. Hiện tại, như thường lệ, giới lãnh đạo đi theo đường hướng của điện Kremlin, theo một thói quen hay như bị cưỡng ép để hậu thuẫn tổng thống và những phát biểu của ông ấy. Thế nhưng, lịch sử đất nước nhắc rõ là mọi thay đổi chính trị sẽ không đến từ đường phố, mà là từ những tranh giành ảnh hưởng ở thượng tầng lãnh đạo. » Nhưng nhà chính trị học Anna Colin Lebedev lo rằng những phát ngôn cứng rắn từ phe « diều hâu » hiến chiến có nguy cơ dẫn đến leo thang quân sự. Trên đài phát thanh France Culture, chuyên gia Lebedev giải thích : « Phe diều hâu này đặt nghi vấn về chiến lược của Nga, cho rằng đã quân Nga đã không đánh mạnh, không tiến xa hơn, phá hủy chưa đủ. Chiến lược này đã không nhắm vào thường dân. Người ta còn nghe những kẻ cực kỳ bảo thủ này nói rằng chúng ta có thể dội bom Kiev … Đương nhiên những người nói như thế không hẳn là những người có quyền lực chính trị, nhưng ngược lại họ phát biểu nhân danh những người từ trong hậu trường ra các quyết định, họ cũng có thể sẽ là những người ra một số quyết định nào đó. Điều làm tôi lo ở đây là một thất bại quân sự rất có thể là điểm xuất phát cho một cuộc leo thang. » Blogger Nga : Cỗ máy tuyên truyền hay kẻ tố cáo ? Nhưng phải chăng Vladimir Putin cũng đang bị « gậy ông đập lưng ông » ? Bất chấp đạo luật do chính ông ban hành hồi đầu tháng 3/2022, nghiêm cấm và phạt tù nặng những ai tuyên truyền làm mất uy tín của quân đội, các hình ảnh trên mạng xã hội và Internet lại cho thấy thất bại của Nga quá hiển nhiên. Báo Mỹ New York Times lưu ý sự việc nhắc rõ vai trò quan trọng của các blogger Nga trên mạng Telegram khi phát tán các bài tường thuật trực tiếp về chiến tranh. Được hàng nghìn người theo dõi, nhiều người trong số các blogger hiếu chiến còn được tháp tùng theo binh sĩ Nga và phe thân Nga đến gần các đường chiến tuyến. Trang mạng kênh truyền hình quốc tế France 24, hồi đầu tháng 5/2022, đơn cử ví dụ kênh Telegram « War Gonzo », do blogger Semyon Pegov quản lý, được hơn 800 ngàn người theo dõi trên mạng Youtube và hơn một triệu người trên Telegram. Từng là phóng viên cho kênh truyền hình Nga Life News ở Donbass, Semyon Pegov đã đăng tải nhiều đoạn video cho thấy hình ảnh binh sĩ Nga ở Mariupol, cảnh (bị cho là dàn dựng) những quân nhân thân Nga được người dân đón tiếp ở ngõ vào Donetsk, hay hình ảnh Semyon Pegov đang ra hiệu cho một binh sĩ kích hoạt bệ phóng rốc-kết trước khi quay sang trả lời phỏng vấn trước camera…. France 24 cho biết « War Gonzo » không phải là trường hợp duy nhất, Vladlen Tatarsky, một cựu quân nhân Nga từng chiến đấu ở Donbass hồi năm 2014, cũng có một cộng đồng Youtube khá đông đảo nhờ đăng các mẩu video từ nhiều vùng chiến sự mà ông được tham gia. Cho dù những blogger này đôi khi hành động như một loa phóng thanh cho những luận điệu của điện Kremlin, xem người Ukraina như là « phát xít », không xứng đáng để đối xử như một con người, Jack Margolin – giám đốc dự án tại Trung tâm Nghiên cứu của Mỹ Center for advanced defence studies (C4ADS) – trả lời France 24 lưu ý thêm rằng « tuy đôi khi trình bày sai lệch về nhiều sự kiện, những người này cũng là khung cửa sổ hữu ích về cho thấy nhiều điều mà chúng ta không có cách nào khác thấy được. » Theo giải thích của Kuznets – cựu phóng viên chiến trường – với tờ New York Times, các sĩ quan Nga dường như dung thứ cho sự hiện diện của những bloggers này, cho dù các ý kiến của họ đôi khi mang tính chỉ trích, bởi vì những người này chia sẻ cùng khái niệm chủ nghĩa đế quốc và hiếu chiến. Hơn nữa, các blogger giữ một vai trò chủ yếu trong việc phổ biến tuyên truyền ủng hộ Nga trên các mạng xã hội mà cả người dân Nga lẫn Ukraina đều tìm hiểu. Chính họ là những người cung cấp nhiều thông tin còn chi tiết, rõ nét và có thể nói là đáng tin cậy hơn là nguồn tin từ bộ Quốc Phòng. Chính họ cũng là những người đầu tiên báo động khả năng Ukraina phản công ở đông bắc, và giờ đây, trước những thất bại quân sự liên tiếp của quân đội Nga tại Ukraina, cũng chính họ là những người đầu tiên giận dữ phản đối bộ Quốc Phòng Nga đã đánh giá thấp kẻ thù và che giấu các thông tin xấu với công luận, chỉ trích cả nhiều quân nhân Nga không buồn kháng cự trước đà tiến của quân Ukraina trong tuần này. Tổng động viên : Thế lưỡng nan của ông Putin Theo nhiều chuyên gia, sự giận dữ ở một mức độ chưa từng thấy từ các blogger Nga nói lên nhiều điều về quan điểm của một bộ phận tầng lớp trí thức Nga liên quan đến cuộc chiến này : Đó là một chiến dịch thể hiện sự thiếu năng lực, được tiến hành với một kinh phí thấp, và chỉ có thể giành được thắng lợi nếu ông Vladimir Putin ban hành lệnh tổng động viên. Sự việc giờ đây đặt tổng thống Nga trong thế khó xử. Hầu hết giới chuyên gia Nga và phương Tây đều cho rằng chủ nhân điện Kremlin dưới áp lực của phe diều hâu không còn cách nào khác ngoài việc tổng động viên, để bù đắp cho số thiệt hại 40 ngàn quân, theo ước tính từ bộ Quốc Phòng Mỹ. Nhưng đây cũng là một giải pháp nguy hiểm cho điện Kremlin. Trên đài RFI, nhà nghiên cứu Dimitri Minic, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp (IFRI), giải thích : « Khi so sánh các con số lý thuyết về lính nghĩa vụ và lính nhập ngũ thật sự, nhất là trong năm nay, chúng ta có xu hướng nghĩ rằng tổng động viên không hẳn là một giải pháp, mà đúng hơn là một tác nhân thúc đẩy sự sụp đổ. Bởi vì người ta nhận thấy rằng thanh niên và người dân Nga trên thực tế tỏ ra miễn cưỡng tham gia trực tiếp vào cuộc xung đột này. Đó rất có thể là một sự phủ nhận đối với chính sách của ông Putin. Chúng ta cũng thấy điều đó trên truyền hình Nga, những cuộc tranh luận sau cuộc phản công chớp nhoáng của Ukraina. Chúng ta thấy là lời lẽ bắt đầu được tuôn ra, thậm chí chúng ta còn thấy là ý tưởng tổng động viên đang được tranh cãi. Trên thực tế đây là một vấn đề rắc rối, đối với họ, được ăn cả ngã về không. » Theo một thăm dò do cơ quan độc lập Levada thực hiện hồi tháng 8/2022, khoảng 48% số người Nga được hỏi cho biết ít quan tâm đến chiến sự tại Ukraina, thậm chí là hầu như không quan tâm. Đây quả thật không phải là giải pháp tốt cho ông Putin. Việc leo thang căng thẳng có nguy cơ gây nguy hiểm cho sự đồng thuận hời hợt về cuộc chiến trên bình diện đối nội. Mặt khác, những thất bại quân sự liên tiếp trên trận địa cũng có nguy cơ làm cho phe diều hâu, những kẻ hiếu chiến nhất, quay lưng lại với ông. Đó là những người đã tin theo luận điệu của điện Kremlin, theo đó Nga phải chiến đấu chống « quân phát xít » và cho chính sự tồn tại của nước Nga.
    9/15/2022
    10:54
  • Con Đường Tơ Lụa Mới : Ván bài « Poker » của Trung Quốc để chống Mỹ
    Năm 1904, Halford John Mackinder – nhà địa lý học người Anh – từng nói: « Ai thống trị được "Heartland" thì chỉ huy cả thế giới ». Học thuyết địa chính trị nổi tiếng này còn cho rằng Vương Quốc Anh vẫn sẽ dẫn đầu thế giới chừng nào chưa có một cường quốc hay liên minh cường quốc Á – Âu nào thống trị lục địa Á – Âu. Hơn một thế kỷ sau, cuộc chiến giành « Heartland » giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết. « Heartland » - trung tâm thế giới - mà Halford J. Mackinder nói đến chính là tâm của Đảo Thế Giới (World – Island), tức lục địa Á-Âu. Vùng « Heartland » này trải dài từ sông Volga đến sông Trường Giang và từ dãy Himalaya đến vùng Vùng Bắc Cực. Vào thời đó, Heartland phần lớn do đế chế Nga hoàng chiếm đóng, nhưng với Mackinder, đây là vùng lãnh thổ trù phú nhất và có vị trí chiến lược quan trọng nhất của thế giới. Hoa Kỳ : « Heartland » của cả thế giới ? Trong một chương trình của đài truyền hình ARTE, George Friedman, nhà sáng lập, kiêm tổng giám đốc Geopolitical Future nhắc lại học thuyết này của Mackinder sau này được Mỹ, đặc biệt là ngoại trưởng Henry Kissinger (1973 – 1977), nghiên cứu kỹ lưỡng : « Theo gương Anh Quốc thời đó, Kissinger nghĩ rằng Mỹ có thể thống trị thế giới một cách hiệu quả từ các vùng biển. Để có thể thực hiện điều này, Washington cần một đầu cầu ở châu Âu và một tại Đông Á, nhằm duy trì sự bất hòa giữa các nước Á-Âu lớn. Vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, đối với Kissinger, điều đó có nghĩa là phải chia rẽ các cường quốc lục địa châu Âu như Đức và Nga, và các cường quốc Á-Âu, tức Nga và Trung Quốc. » Điểm quan trọng nhất trong học thuyết này của Mackinder là làm thế nào kiểm soát hai nút thắt chính ở hai đầu cực lục địa Á-Âu. Theo nhận định của Pepe Escobar, nhà phân tích địa chính trị, trên đài ARTE, trong suy nghĩ của giới chiến lược gia Mỹ thời bấy giờ, hai nút thắt đó chính là Đức và Nhật Bản. « Nếu Mỹ kiểm soát được Đức, đây là những gì họ vẫn làm, nếu họ khống chế được Nhật Bản, đó cũng là những gì đang diễn ra, và nếu Mỹ thống trị được các vùng biển như Anh Quốc trong quá khứ, Hoa Kỳ có thể bao vây lục địa Á-Âu và chi phối toàn cầu ở cấp độ đường biển. » Cũng theo học thuyết của Mackinder, trung tâm của hệ thống toàn cầu là Heartland. Ai kiểm soát được Heartland thì sẽ thống trị được châu Âu và toàn thế giới. Nhìn từ góc độ này, George Friedman cho rằng Mỹ hiện vẫn là « Heartland » của thế giới : « Thứ nhất, đây là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thứ hai, đây là quốc gia thụ hưởng dòng vốn đầu tư chính và quan trọng hơn cả, đây còn là một trong số hiếm hoi các nước trên thế giới không thể bị tấn công bằng đường bộ. Nước Mỹ nằm trên một hòn đảo, tuy phía Bắc giáp với Canada, phía Nam giáp với Mêhicô, nhưng Canada tham gia cùng hệ thống phòng không với Mỹ, còn Mêhicô có những đặc tính riêng của họ, nên Mỹ cũng không mấy lo lắng về vấn đề này. » Cũng theo George Friedman, mối đe dọa duy nhất đối với Mỹ đến từ hai đại dương. « Khi Mackinder ở đó, ông ấy đã không để ý đến Thái Bình Dương. Ngày nay, người ta nói rằng ai khống chế được Đại Tây Dương và Thái Bình Dương thì sẽ chỉ huy được trung tâm thế giới. Mỹ kiểm soát được Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Chừng nào Hoa Kỳ vẫn còn duy trì được vị thế này, thì cách hành xử của Trung Quốc và châu Âu vẫn sẽ nằm dưới sự kiểm soát, chí ít là ở một mức độ nào đó. » Bắc Kinh : « Heartland » phải nằm ở lục địa Á-Âu Nhưng vị thế « Heartland » này của Mỹ giờ đây đang bị một cường quốc khác đe dọa. Trung Quốc, sau 30 năm trỗi dậy thần kỳ, nay tìm cách đặt lại lục địa Á-Âu vào vị trí trung tâm thế giới. Trung Quốc và châu Âu đã có những mối quan hệ giao thương từ thời Cổ Đại. Lụa dệt tơ tằm của Trung Quốc rất được người La Mã ưa chuộng, để rồi sau này, con đường tơ lụa đó còn được dùng để vận chuyển gia vị, ngựa, và da thú. Do vậy, với Bắc Kinh, tâm điểm của chính trị quốc tế phải được di dời từ bên kia bờ Đại Tây Dương sang lục địa Á-Âu. Và đây là mục tiêu cốt lõi của dự án Con Đường Tơ Lụa Mới, còn được biết đến dưới tên gọi Nhất Đới, Nhất Lộ - Một Vành Đai, Một Con Đường (One Belt, One Road), mà Trung Quốc khởi động từ năm 2013. Đương nhiên, mục tiêu đầu tiên của dự án là nhằm bình ổn tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong vòng 20 năm tới. Sự thịnh vượng của người dân Trung Quốc là nền tảng bảo đảm cho tính chính đáng của đảng Cộng Sản. Trong mục tiêu này, những điểm kết nối nằm dọc theo hai trục liên thông chính sẽ được hình thành, nối Trung Quốc với châu Âu. Một ở phía bắc, qua ngả Trung Á và một ở phía nam, thông qua Nam Á và châu Phi. Theo kế hoạch, dự án khổng lồ này phải kết nối với gần 70 quốc gia, và hơn 4 tỷ người dân. Trong vòng gần 10 năm, Trung Quốc đã đầu tư và xây dựng nhiều dự án cơ sở hạ tầng, từ kinh tế, cầu đường, đập thủy điện, cho đến các trang thiết bị kỹ thuật số, văn hóa… Mỗi năm Trung Quốc đầu tư gần 20 tỷ đô la tại các nước dọc theo những trục mới này. Con Đường Tơ Lụa Mới và những thách thức Nhưng chiến lược mở rộng ảnh hưởng này của Trung Quốc cũng đối mặt với nhiều rủi ro lớn. Một mặt, Bắc Kinh cũng ý thức được rằng sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và nguồn cung dầu khí, những yếu tố mang tính sống còn cho chế độ Cộng Sản, là những điểm yếu nhất trong dự án Con Đường Tơ Lụa Mới. Ở phía nam, thông qua đường hàng hải, eo biển Malacca là « gót chân Achille » trong chuỗi cung ứng nhiên liệu từ Trung Đông và các nước Vùng Vịnh Ba Tư, một điểm xung đột tiềm tàng giữa Mỹ và Trung  Quốc, theo như phân tích của chuyên gia địa chính trị Pepe Escobar: « Hải quân Mỹ có thể ngăn chặn hàng hóa trong không gian này chỉ trong vài giờ. Eo biển này có dạng cổ chai, cực kỳ hẹp và nguy hiểm, với nhiều điểm hỗ trợ trong khu vực, Hoa Kỳ chẳng gặp chút khó khăn gì để cắt nguồn cung ứng năng lượng của Trung Quốc. Vấn đề này khiến nhiều nhà phân tích Trung Quốc lo lắng ít nhất từ 20 năm qua. » Để bớt lệ thuộc vào eo biển Malacca, Bắc Kinh mở rộng giao thương bằng đường bộ. Về điểm này, Trung Á giữ một vai trò thiết yếu. Chỉ có điều là con đường này cũng lắm chông gai, mà Afghanistan là một trong những hằng số. Quốc gia này có lợi thế địa lý, là giao điểm kết nối Á – Âu, nhưng đây cũng là một thùng thuốc nổ tiềm tàng, tâm điểm của mọi  hỗn loạn trong khu vực. Ngoài ra, trong trường hợp các nhà nước chuyên quyền trong vùng bị những cuộc nổi dậy, những rối loạn hay các cuộc tấn công khủng bố gây bất ổn, điều đó có nguy cơ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho Con Đường Tơ Lụa Mới. Ông Constantin Simonov, tổng giám đốc Quỹ An Ninh Năng Lượng Quốc Gia, lưu ý thêm rằng sự hiện diện ngày một lớn của Trung Quốc tại nhiều nước Trung Á và châu Phi, ngoài việc áp đặt những lợi ích chính trị, còn nhằm bảo đảm việc tiếp cận các thị trường nguyên nhiên liệu: « Việc vận chuyển năng lượng là mục tiêu của một cuộc chiến bền bỉ vì việc có được trong tay những nguồn tài nguyên thiên nhiên là một điều quan trọng. Kiểm soát được các đường vận chuyển, mà các cuộc xung đột xung quanh các đường ống dẫn khí đốt và việc xây dựng những công trình này mang tính mấu chốt. Vấn đề ở đây không chỉ bảo vệ các lợi ích của chính Bắc Kinh, mà còn nhằm cản trở các đối thủ tiếp cận nguồn năng lượng. » Ván bài « Poker » Nga – Mỹ – Trung Mặt khác, ảnh hưởng ngày một lớn của Trung Quốc trên thế giới khiến Hoa Kỳ lo lắng. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc trở thành cường quốc số một thế giới ? Con Đường Tơ Lụa Mới này đe dọa ưu thế của phương Tây, và nhất là thế bá quyền mà Mỹ có được từ sau ngày Liên Xô sụp đổ. Sự lo lắng này của Mỹ cũng không phải là vô cớ. Trong cuộc chiến tranh Ukraina, nhiều quốc gia đã tránh bày tỏ lập trường và không tham gia vào các biện pháp trừng phạt do phương Tây ban hành. Hơn nữa, tính hiệu quả các biện pháp trừng phạt của Mỹ còn gắn chặt với sức mạnh của đồng đô la. Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, tờ tiền xanh đã thay thế đồng bảng Anh với tư cách là ngoại tệ hàng đầu thế giới. Nhiều ngân hàng trung ương dành một phần lớn nguồn dự trữ ngoại tệ bằng đô la và trên cấp độ quốc tế, đa phần các hoạt động giao thương đều được thực hiện bằng đồng đô la. Vị thế này của đô la Mỹ đang dần bị thay đổi trên thị trường nguyên liệu thô. Ả Rập Xê Út, bắt đầu sử dụng đồng tiền Trung Quốc cho các hoạt động giao thương với Trung Quốc. Họ rất có thể làm điều tương tự với cả Nga. Michael Luders, học giả về chính trị và Hồi giáo người Đức, cho rằng, trong điều kiện này, đồng đô la có nguy cơ không còn là ngoại tệ quốc tế hàng đầu. « Điều bất lợi cho Mỹ là nếu đồng đô la không còn là đồng tiền tham chiếu duy nhất nữa trên thế giới, họ sẽ không thể nào vay nợ không giới hạn và đây chính là chiếc gai lớn trong chân người Mỹ. » Giờ đây trong cuộc đọ sức này, mỗi bên tìm kiếm cho mình một đồng minh. Nhằm gây thất bại cho các tham vọng của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã thiết lập các mối quan hệ đồng minh mới tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương như liên minh AUKUS với Anh và Úc hồi tháng 9/2021. Cuộc chiến Ukraina do Nga phát động cũng khiến nhiều nước trong Liên Hiệp Châu Âu tăng thêm ngân sách quốc phòng. Và Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương – NATO như được củng cố hơn. Ngược lại ở phía bên kia, Matxcơva và Bắc Kinh xích lại gần nhau hơn, cả trên bình diện kinh tế lẫn quân sự. Và mối quan hệ Nga – Trung này là một yếu tố mấu chốt cho những lợi ích địa chiến lược của Mỹ. Và điều này cũng không có gì là mới mẻ. Năm xưa, để chia rẽ Matxcơva và Bắc Kinh, tổng thống Mỹ Richard Nixon và ngoại trưởng Henry Kissinger, đã « hy sinh » Đài Loan để được xích lại gần với Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Một ván cờ « Poker » mới lại hình thành, cũng với ba gương mặt cũ, nhưng lần này Hoa Kỳ trong thế « con mồi » bị tấn công. Nhìn từ những góc độ này, câu hỏi đặt ra : Phải chăng học thuyết của Mackinder đã lỗi thời ? Về điểm này, Jorg Barandat, giáo sư về chiến lược quân sự tại Đức đưa ra một nhận định như sau : « Ngày nay, khi người ta nói đến sự thống trị trên mọi lĩnh vực, người ta không chỉ nghĩ đến năng lực quân sự như bộ binh, không quân, hải quân… mà còn phải bao gồm cả thương mại, công nghệ, lĩnh vực y tế, hệ thống xã hội, các phương tiện thông tin. Đây chính xác là tham vọng của Trung Quốc với dự án Con Đường Tơ Lụa. Họ không chỉ xây dựng các liên kết hàng hải và các tuyến giao thông trên bộ mà họ còn quy hoạch cả một con đường tơ lụa thông tin và con đường tơ lụa y tế. Những dự án này được mở rộng cho tất cả những lĩnh vực nào có thể giúp Trung Quốc giành được ảnh hưởng và khẳng định thế thống trị. Điều đó bao gồm cả việc thành lập các định chế song song với các định chế của Liên Hiệp Quốc như Ngân hàng Thế giới chẳng hạn ».
    9/8/2022
    11:49
  • Mikhail Gorbachev : « Người đào mồ » chôn Liên bang Xô Viết bất đắc dĩ
    « Hỡi đồng bào, đồng bào quý mến ! Do tình hình hiện tại, do sự hình thành một Cộng đồng các quốc gia độc lập, tôi tuyên bố chấm dứt chức vụ tổng thống Liên Xô. »[1]. Ngày 25/12/1991, bằng những lời lẽ này, Mikhail Gorbatchev, tổng thống Liên Xô lúc bấy giờ đã đặt dấu chấm hết cho Đế chế Xô Viết, đại cường thứ hai trên thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ba mươi mốt năm sau, ngày 30/08/2022, Mikhail Gorbatchev ra đi ở tuổi 91, để lại một di sản gây nhiều tranh cãi. Tại phương Tây, giải Nobel Hòa Bình được ca tụng vì đã chấm dứt Chiến Tranh Lạnh và cùng lúc, dù không muốn, đã kết thúc chế độ Cộng sản Liên Xô. Nhưng cũng vì những lý do này mà ông lại bị một bộ phận người Nga ghét bỏ, lên án ông là « kẻ đào mồ chôn Liên bang Xô Viết » khi « bán Tổ quốc cho Hoa Kỳ ». Sinh ngày 02/03/1931, Mikhail Gorbachev – xuất thân từ một gia đình nông dân – tốt nghiệp ngành Luật học trường đại học Lomonossov ở Matxcơva, và có bằng kỹ sư nông nghiệp, bắt đầu sự nghiệp chính trị tại vùng Stavropol, được bầu chọn làm tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, khi mới có 54 tuổi. Ông trở thành lãnh đạo Liên Xô trẻ tuổi nhất, vào thời điểm đất nước rơi vào trì trệ trên mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, cho đến chính trị do tình trạng quan liêu, tham nhũng. M. Gorbachev cũng ý thức được rằng cần phải cải tổ đất nước sâu rộng trên nhiều phương diện. Ngay khi lên cầm quyền, ông tiến hành một loạt các thay đổi từ đối ngoại, cho đến kinh tế, chính trị, và xã hội, để lại ba dấu ấn cho đến giờ vẫn gây nhiều tranh cãi : Một chính sách ngoại giao mới, một « Perestroika » (Tái cấu trúc) và một « Glasnost » (nghĩa là Minh bạch). Giảm kho vũ khí : Gorbachev « bán mình » cho Mỹ ? Trên trường quốc tế, ông đã nhanh chóng tạo ra một « hiệu ứng Gorbachev » khi đưa ra hình ảnh một lãnh đạo Xô Viết mới « tươi cười, thẳng thắn, cởi mở với các đối thoại ». Ông lao vào thúc đẩy tiến trình giải trừ vũ khí và hạ nhiệt căng thẳng với phương Tây. Libération[2] trong một bài viết về chân dung nhà lãnh đạo Xô Viết sau cùng nhắc lại vào năm 1985, khi quan hệ căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Liên Xô lên đến đỉnh điểm, cả nền kinh tế của Liên Xô được yêu cầu đáp ứng cho một mục tiêu duy nhất : Không để cho Mỹ qua mặt trên phương diện vũ khí. Nếu như Washington dành 6% GDP cho quốc phòng thì tại Liên Xô, tỷ lệ này ở mức 15% thậm chí là 30%, theo như một số thẩm định. Đối với vị tân lãnh đạo Xô Viết thời đó, mức chi này quá lớn, đè nặng lên nền kinh tế quốc gia, và điều này còn là một mối họa cho các dự án cải cách, trong khi bản thân ông cũng không tin có đối đầu hạt nhân với Mỹ. Do vậy, ông muốn chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang và « cuộc chiến các vì sao » điên rồ của Ronald Reagan. Một loạt các tiến trình bình thường hóa quan hệ quốc tế được đưa ra : Tái lập đối thoại với phương Tây, nối lại quan hệ với Trung Quốc, rút quân khỏi Afghanistan, và nhất là đơn phương  dỡ bỏ một phần kho vũ khí khi ký kết Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân Tầm trung INF với Mỹ năm 1987, dẫn đến việc triệt thoái toàn diện binh sĩ Liên Xô tại Đông Âu, sự sụp đổ của bức tường Berlin và hợp nhất nước Đức năm 1990. Những quyết định đó được phương Tây cho là đã « mang lại hòa bình » cho thế giới, nhưng tại Nga, ông bị phe hiếu chiến cáo buộc « phủ phục » trước Hoa Kỳ - kẻ thù truyền kiếp của Liên Xô – đặt dấu chấm hết cho một thế giới lưỡng cực do hai siêu cường thế giới giăng ra. Một sự sỉ nhục, « một thảm họa địa chính trị của thế kỷ XX », theo như tuyên bố của tổng thống Nga Vladimir Putin trong một bài diễn văn. Nhà sử học Taline Ter Minassian[3], trường INALCO, giám đốc Đài Quan sát các nhà nước hậu Xô Viết, nhắc lại : « Ông Putin cho rằng Gorbachev quá ngây thơ trước phương Tây. Lẽ ra, để đổi lấy việc tháo dỡ các hệ thống tên lửa và cuối cùng là toàn bộ hệ thống phòng thủ của Liên Xô, ít nhất ông ấy phải được một sự bảo đảm bằng văn bản, điều mà Gorbachev đã không làm được. Theo đó, bằng văn bản, phương Tây phải bảo đảm rằng NATO – Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương sẽ không bao giờ tìm cách mở rộng đến các nước cộng hòa cũ của Liên Xô, những điều mà trong những năm 90, sớm xuất hiện như Nga gọi là những quốc gia gần gũi. Nhưng vì Gorbachev không cẩn trọng và có lẽ quá say sưa với mối quan hệ đặc quyền của mình với phương Tây, quá tin tưởng vào những lời hứa không bằng văn bản, những lời hứa mà phương Tây cuối cùng đã không giữ, vì sau này một số quốc gia từng là thành viên của Liên Xô trước năm 1991 nay nằm trong khối NATO. » Perestroika, Glasnost và những thất bại của cuộc cải cách Và trong khi Gorbachev « chạy đôn chạy đáo » ở bên ngoài, những đường ranh giới của Liên Xô bắt đầu rạn nứt dưới áp lực của nhiều nước Cộng hòa thành viên Liên bang Xô Viết, một vùng lãnh thổ đa quốc gia, đa tôn giáo và đa sắc tộc, trải dài trên 11 múi giờ và sự gắn kết được thực hiện dưới sự cưỡng ép. Những yêu sách chủ quyền, những tranh cãi cũ xưa giữa các sắc tộc, chủ nghĩa ly khai bùng phát… Một thiếu sót trong chính sách cải cách mà sau này ông nhìn nhận trong một chương trình truyền hình của kênh France 2[4] năm 2001 : « Công cuộc cải cách lẽ ra phải được bắt đầu từ đảng Cộng sản, bởi vì đảng Cộng sản Liên Xô đã trở thành chiếc phanh kềm hãm chính yếu. Rồi chúng tôi đã đánh giá thấp khúc mắc của những sắc tộc hình thành nên Liên Xô. Do vậy, lẽ ra nên đổi mới hiệp ước Liên bang trước. Và điểm thứ ba là phải giảm ngay ngân sách quân sự từ 10-15% để lấy tiền mua thực phẩm cho người dân. Chính vào lúc người dân phải xếp hàng nhiều giờ để có nhu yếu phẩm là lúc mà người dân nói rằng có điều gì đó không ổn với ông Gorbachev. » Nếu ở bên ngoài ông được phương Tây ca tụng vì sự cởi mở và động thái hạ nhiệt, thì ở trong nước ông bị chỉ trích mạnh mẽ. Cho đến cuối đời, Gorbachev vẫn bị một bộ phận dân Nga không tha thứ vì những hệ quả do chính sách « Perestroika » nổi tiếng của ông gây ra. Perestroika – tức Tái cấu trúc – có mục tiêu cải cách sâu rộng về việc điều hành kinh tế đất nước, hình thành một nền kinh tế thị trường phi tập trung hóa, nhưng vẫn luôn dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng sản. Nhưng ý định này của ông vấp phải sự phản đối từ các bí thư chi bộ đảng ở các vùng, xem đấy như là một mối đe dọa cho quyền kiểm soát về kinh tế mà họ đang nắm ở địa phương. Để áp đặt các chương trình cải cách, Gorbachev đã thanh lọc nội bộ, cho thay thế gần một nửa các thành viên của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản và để gạt trừ những « kẻ bất kham », vị lãnh đạo Xô Viết sau cùng còn dùng đến một thứ vũ khí, được đặt tên là « glasnost », có nghĩa là « Minh bạch ». Đây cũng chính là giai đoạn thứ hai trong chương trình « Perestroika » của ông. Theo đó, người dân được quyền nói về những chủ đề cấm kỵ của lịch sử và tố cáo những sai lệch trong vận hành của hệ thống Xô Viết. Điều này mở rộng không gian cho nhiều tác nhân bị tước đoạt tự do ngôn luận. Trên thực tế, theo nhận định của trang mạng Conflit[5], chiến lược của M. Gorbachev là mở một chiến dịch thông tin giả, làm cho thế giới tin rằng có một sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ đảng Cộng sản Liên Xô, giữa một bên là phe « cải cách » và bên kia là những thành phần bảo thủ. Sự phô bày này lại không tương ứng với thực tế là có sự chia cắt từng nấc thang cao cấp của đảng thành nhiều phe phái và nhóm lợi ích khác nhau. Và chiến lược « Glasnost » này còn mang tính biểu tượng khi trong kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIX (tháng 6-7/1988), các cuộc thảo luận lần đầu tiên được phát trực tiếp trên truyền hình. Nhưng « Perestroika » cũng còn đồng nghĩa với khủng hoảng kinh tế, với những dãy cửa hàng trống rỗng, hàng người dài chờ lãnh nhu yếu phẩm bị khan hiếm trầm trọng, lạm phát tăng vọt, các công trường ngưng hoạt động, giao thông suy yếu…  dẫn đến những tiếc nuối từ nhiều người dân Nga, vẫn luôn hoài niệm về một « thời kỳ Liên bang Xô Viết vẫn tốt hơn, nước Nga hùng mạnh, người dân có sưởi mùa đông miễn phí, được cấp nhà ở miễn phí và nhất là không có thất nghiệp », theo như giải thích của giáo sư sử học Taline Ter Minassian trên đài France Culture. Perestroika : Bài học kinh nghiệm quý giá cho Trung Quốc Chuyện gì đến phải đến. Những cải cách kinh tế - chính trị và xã hội, tuy không phải là để phá hủy đất nước như ông luôn khẳng định, đã vượt ngoài tầm kiểm soát, và đã nhanh chóng làm xói mòn tính chính đáng của đảng Cộng sản Liên Xô. Việc toàn bộ hệ thống chính trị Liên Xô bị « thanh lý » và Liên bang Xô Viết bị tan rã, dẫn đến cuộc đảo chính năm 1991, buộc ông phải từ nhiệm, mở đường đưa Boris Yeltsin lên cầm quyền và sau này là ông Vladimir Putin, đồng thời làm thay đổi hoàn toàn bản đồ châu Âu với sự ra đời của nhiều quốc gia mới, vốn là những nước Cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Trong một chương trình của France 2 năm 2001, khi được hỏi « Nếu được làm lại cuộc đời, ông sẽ thay đổi điều gì ? », Gorbachev tuy kiên định cho rằng « Perestroika » là cần thiết, nhưng phần nào thừa nhận có sai lầm trong chiến lược: « Có lẽ là tôi sẽ chẳng thay đổi cuộc đời của tôi, bởi vì quả thật tôi bằng lòng về số phận của mình. Tôi xuất thân từ một gia đình nghèo khó, đến từ một tỉnh lỵ xa xôi, vậy mà tôi đã leo lên được đỉnh cao quyền lực, đó là một điều không nhỏ. Ngược lại, nếu như tôi được làm lại « perestroika », tôi sẽ làm lại y như thế, tôi vẫn sẽ chọn tự do, nền dân chủ, glasnost – sự mở cửa, nhưng tôi có lẽ nên thay đổi đôi chút các ưu tiên của mình. » Câu chuyện về Perestroika vẫn còn nhiều vùng tối chưa thể giải thích hết được. Mikhail Gorbachev có Công hay là Tội, lịch sử vẫn sẽ tiếp tục phán xét. Nhưng có một điều chắc chắn Perestroika đối với Trung Quốc là một bài học quý giá: sai lầm của ông Gorbachev là đã tiến hành « cải cách chính trị trước khi cải cách kinh tế », ngược lại với những gì Bắc Kinh thực hiện từ năm 1970 và nhất là sau biến cố Thiên An Môn. Và Trung Quốc cũng khẳng định « không thay đổi điều gì ở cấp độ chính trị để tránh  giẫm theo vết mòn của Liên Xô trước đây », theo như nhận định của chuyên gia về Nga Florent Parmentier, giám đốc trang mạng Eurasiaprospective.net trên đài France Inter. GHI CHÚ [1] Hồ sơ lưu trữ INA – Thông báo từ nhiệm của Mikhail Gorbachev ngày 25/12/1991 (https://www.youtube.com/watch?v=lm343ogc9xg&t=127s) [2] Mikhaïl Gorbatchev, la dernière mort de l’URSS – Libération ngày 30/08/2022. https://www.liberation.fr/international/europe/mikhail-gorbatchev-la-derniere-mort-de-lurss-20220830_6CE6P2KYIZHJRNFGIEO3ITBGE4/ [3]Gorbatchev a-t-il causé la chute de l'URSS ? – France Culture ngày 31/08/2022. https://www.radiofrance.fr/franceculture/podcasts/sans-oser-le-demander/pierre-bourdieu-5595060 [4] Hồ sơ lưu trữ INA _ Mikhaïl Gorbatchev témoigne sur la Russie chez Thierry Ardisson, France 2 ngày 15/12/2021. https://www.youtube.com/watch?v=z0m5vJZjsUU [5] Mikhaïl Gorbatchev et la perestroïka – Conflit ngày 31/08/2022.https://www.revueconflits.com/jean-robert-raviot-mikhail-gorbatchev-et-la-perestroika/?utm_source=newsletter&utm_medium=email&utm_campaign=podcast_mikhail_gorbatchev_taline_ter_minassian&utm_term=2022-08-31
    9/1/2022
    11:31

Acerca de TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Sitio web de la emisora

Escucha TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM, Los 40 Principales Mexico y muchas más emisoras de todo el mundo con la aplicación de radio.es

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Descarga la aplicación gratis y escucha radio y podcast como nunca antes.

Tienda de Google PlayApp Store

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM: Radios del grupo