Radio Logo
RND
Escucha {param} en la aplicación
Escucha TẠP CHÍ ÂM NHẠC en la aplicación
(3.247)(171.489)
Favoritos
Despertador
Sleep timer
Favoritos
Despertador
Sleep timer
Página inicialPodcasts
TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Podcast TẠP CHÍ ÂM NHẠC
Podcast TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Guardar

Episodios disponibles

5 de 24
  • Tạp chí âm nhạc - Richard Marx - Những kỷ lục thầm lặng
    Nếu bình chọn một nam ca sỹ có chất giọng đặc biệt, có lẽ Richard Marx là một trong những cái tên được nghĩ tới đầu tiên. Ca khúc kinh điển Right here waiting (Chờ đợi em nơi này) như đo ni đóng giày cho tiếng hát nam nghệ sỹ. Tài năng của Richard không dừng lại ở vai trò nghệ sỹ biểu diễn mà còn ở kỷ lục sáng tác và sản xuất mà ít người biết. Vườn ươm nghệ thuật Nam nghệ sỹ sinh năm 1963 sinh trưởng trong gia đình có truyền thống nghệ thuật tại thành phố Chicago, Mỹ. Cha anh là Dick Marx, một nghệ sỹ piano chuyên nhạc jazz, mẹ anh là Ruth Marx, ca sỹ hát trong ban nhạc lớn. Con đường nghệ thuật của Richard rộng mở từ khi anh 5 tuổi. Anh biểu diễn ca khúc I wanna be free của nhóm The Monkees ở trường tiểu học. Richard Marx có khởi đầu thuận lợi nhờ cả kế thừa gene nghệ thuật cha mẹ. Anh vừa có khả năng hát, biểu diễn, sáng tác, chơi guitar và piano. Đặc biệt chất giọng Richard Marx không thể lẫn vào bất cứ giọng nam nào. Giọng anh dày, ấm, nhiều lớp và rất phù hợp các pop ballad trữ tình. Thú vị hơn, nam ca sỹ của bản nhạc bất hủ Hello, Lionel Richie là người khuyên nhủ Richard Marx tới Hollywood lập nghiệp khi anh 18 tuổi. Tình tiết này được đưa vào trong cuốn hồi ký Stories to tell (Những câu chuyện kể) ra mắt tháng 7 năm 2021. Anh từng hát đệm cho Madonna trong album True Blue, hay làm nền cho danh ca Cher trong ca khúc Love Hurts. Từ ca sỹ chuyên hát đệm, Richard chuyển mình thành ca sỹ solo với tần suất sáng tác, biểu diễn dày đặc. Năm 1987, đĩa đơn đầu tay mang tên chính anh, Richard Marx chính thức gây bão táp trên bảng xếp hạng Billboard. Album lên hạng bạch kim và ca khúc Don’t Mean Nothing (Không ý nghĩa) leo lên hạng 3 của Top 10 ca khúc ưa thích nhất. Điểm mạnh mà Richard khai thác tối đa là những nốt cao nghe cuốn hút, mà không chói tai. Chất giọng giữ được cường độ ngân và độ vang một cách bền bỉ. Don’t Mean Nothing có tiết tấu, nhịp điệu đậm chất pop/rock, khỏe khoắn và mạnh mẽ. Các ca khúc anh sáng tác hầu hết có giai điệu rất mạch lạc, rõ ràng như Angelina, Hold On To The Nights, Endless Summer Nights. Các nhà phê bình cho rằng album này như sản xuất để phát sóng trên radio vì các ca khúc có mãnh lực thu hút người nghe. Hai năm sau, anh lại tái hiện được sức hút nam châm qua album Repeat Offender (Kẻ xúc phạm tái diễn). Album này được coi là “mật ngọt” với các thiếu nữ nhờ bản hit đình đám Right here waiting. Ca khúc kinh điển này gắn với tên tuổi Richard Marx suốt sự nghiệp. Nó hội tụ đầy đủ các yếu tố của bản tình ca đi cùng năm tháng: chất giọng nam tính, giai điệu lắng đọng khó quên, kỹ thuật thể hiện có bản sắc riêng. Bản nhạc này kẻ một ranh giới chia tách những sáng tác của Richard Marx thành hai mảng màu khác biệt: trữ tình sâu lắng pop ballad và mạnh mẽ theo thiên hướng rock. Những kỷ lục thầm lặng của nghệ sỹ sáng tác Tính đến hiện tại, Richard Marx tiêu thụ hơn 30 triệu đĩa hát khắp toàn cầu. Nói vậy, chưa đủ thuyết phục để phác họa tài năng của Richard Marx. Anh là nam nghệ sỹ duy nhất lập kỷ lục có 14 đĩa đơn đạt hạng nhất trên cương vị nghệ sỹ biểu diễn, sáng tác và nhà sản xuất. Trong đó, 7 đĩa đơn đầu tiên lọt vào Top 5 ca khúc ưa thích nhất. Tạp chí âm nhạc Billboard nói rằng Richard nắm giữ kỷ lục hiếm có : sở hữu các ca khúc được ưa thích trên các bảng xếp hạng âm nhạc khác nhau trong suốt bốn thập niên (thập niên 80 đến 2010). Anh từng cộng tác với rất nhiều tên tuổi lớn làng âm nhạc như Barbara Streisand, Madonna, NSYNC, Keith Urban, Luther Vandross. Ít người biết rằng, Richard là tác giả bản hit xuất sắc cho nhóm NSYNC - This I Promise You. Hơn thế, Richard Marx cần mẫn mở rộng hợp tác với các nghệ sỹ trong việc sáng tác và biểu diễn. Anh tự nhận rằng mình hứng thú với sáng tác nhạc và những giai điệu luôn thôi thúc anh chắp bút. “Tôi là người bị thôi thúc bởi giai điệu, do vậy, thứ đầu tiên xảy đến trong đầu tôi phải là giai điệu. Khi nó bắt đầu phát ra tín hiệu không phải trình tự tuyến tính, tôi đã hiểu phải ghi âm ra sao, chơi theo thể loại gì, pop, rock hay country, có khi chỉ là nhạc hòa tấu.” Những ví dụ thành công không thể bỏ qua được Now and Forever, bản tình ca khác gắn với phong cách mộc mạc của Richard Marx. Lời ca rất thâm thúy và triết lý : “Until the ocean doesn’t touch the sand, now and forever, I will be your man” (Cho tới khi nào đại dương không còn sóng xô bờ cát, bây giờ và mãi mãi, anh vẫn là người đàn ông của em). Xuyên suốt sự nghiệp, cuộc đời Richard Marx gắn với các tour lưu diễn. Anh cho rằng cuộc sống nghệ sỹ sáng tác và biểu diễn là hoàn toàn khác biệt. Nhưng tần suất lưu diễn đem lại động lực tinh thần và nuôi dưỡng tài chính cho sự nghiệp âm nhạc. Anh cũng khá bất ngờ khi những khán giá trẻ tuổi hát lại bản hit hơn 30 năm trước của anh. Đó là món quà khích lệ tinh thần cho nghệ sỹ tài năng khi sở hữu khán giả trung thành qua nhiều thế hệ.   Truyền thống âm nhạc được kế thừa Bản thân Richard Marx tận hưởng sự nghiệp âm nhạc được kế thừa lại cho thế hệ con anh. Trong album gần nhất Limitless (2019), Richard cùng cậu con trai Lucas cùng sáng tác hai ca khúc All Along và Another One Down. Cả hai ca khúc lọt vào Top 14 Billboard như đánh dấu nỗ lực hợp tác giữa cha và con. Lucas Marx là người con thứ hai trong số ba con trai với người vợ đầu tiên Cynthia Rhodes; Brandon 31, Lucas, 29 và Jesse, 27 tuổi. Anh nói rằng tôi gần gũi với cả ba cậu con trai vì chúng đều thực sự tài năng nhưng Lucas là hợp với anh nhất về định hướng âm nhạc và sự sáng tạo. Trong khi đó, Brandon thiên hướng về nhạc electronic/hiphop, cậu út Jesse lại tập trung vào hardcore rock. Hạnh phúc lớn nhất của một nghệ sỹ tài năng là tìm được sự đồng điệu với các thế hệ kế cận. Ngoài ra, cảm hứng của người vợ thứ hai Daisy Fuentes, kết hôn năm 2015, luôn được anh đề cao. Daisy khích lệ Richard bằng những thành công của mình. Richard Marx đáp lại một cách khiêm nhường, anh ít khi nhìn lại thành công trong quá khứ. Tuy nhiên, anh biết tận hưởng những trái ngọt của thành quả lao động miệt mài khi đánh giá cẩn trọng. Từ giọng ca từng hát đệm cho Madonna hay Cher, Richard trưởng thành theo năm tháng nhờ lao động miệt mài và tham vọng đáng trân trọng. Với con mắt lâu năm trong nghề, anh sớm nhận ra thị trường âm nhạc thay đổi ra sao trong suốt 40 năm qua : “Khá dễ dàng để bạn có thể trình làng ca khúc mới nhưng việc khó khăn hơn làm sao tạo nên sự khác biệt. Một ca khúc mới có thể dễ dàng bị nhiễu bởi đủ mọi tạp âm”. Một nghệ sỹ nắm giữ nhiều kỷ lục như Richard Marx luôn tìm cách di chuyển giữa những gì quen thuộc và nét mới mẻ với khán giả. (Theo Billboard, Washington Post)
    10/23/2021
    9:46
  • Tạp chí âm nhạc - Sylvie Vartan : 60 năm tình khúc còn nhớ mãi
    Cách đây 6 thập niên, khi nam ca sĩ Frankie Jordan đang chuẩn bị ghi âm một bài song ca, thì bỗng nhận được tin là cô bạn đồng nghiệp sẽ không đến kịp. Nhạc sĩ phụ trách phần hòa âm lúc bấy giờ là Eddie Vartan mới đề nghị gọi cô em gái 16 tuổi vào thay thế phần thu thanh giọng nữ. Bài hát ăn khách vào mùa hè năm 1961 mở đầu cho một trong những sự nghiệp dài lâu nhất trong làng nhạc Pháp : thần tượng tóc vàng Sylvie Vartan. Bản thân nữ danh ca Sylvie Vartan cũng không ngờ rằng mình sẽ thành công lâu đến như vậy. Bài song ca ''La Panne d'esence'' mà cô ghi âm với Frankie Jordan (giải nghệ vào năm 1968) là phiên bản chuyển ngữ tiếng Pháp của nhạc phẩm ''Out of Gas'' ăn khách lần đầu tiên qua giọng ca của Floyd Robinson. Bản nhạc này mở đường cho Sylvie Vartan ghi âm nhiều bài hát ăn khách khác, cũng như Françoise Hardy và France Gall, cô trở thành một trong những thần tượng nhạc trẻ sáng giá nhất nước Pháp. Trong những năm sau đó, hầu như thập niên nào Sylvie cũng đều có album ăn khách, nhờ phong cách mà trụ vững qua bao phong trào. Một sự nghiệp hiếm thấy với hơn 1.500 bản ghi âm Khi sự nghiệp cất cánh vào đầu thập niên 1960, Sylvie từng đứng chung sân khấu với nhóm The Beatles tại nhà hát Olympia vào năm 1964, thành hôn với rocker số 1 của Pháp Johnny Hallyday, ghi âm những bản nhạc tiêu biểu nhất của phong trào nhạc trẻ kể cả nguyên tác (''La plus belle pour aller danser'' Em đẹp nhất đêm nay của tác giả Aznavour mà quý thính giả và các bạn đã nghe trong phần đầu) hay phóng tác (''En écoutant la pluie'' Nghe tiếng mưa rơi do Richard Anthony chuyển ngữ từ bài ''Rhythm of the Rain'' của John Claude Gummoe). Lắng nghe nhịp mưa rơi Thì thầm như muốn nói Gõ nhẹ khung cửa sổ Cho lòng thêm bối rối   Tình lạc cánh vực sâu Giấu tim ta chốn nào Mang theo trời hạnh phúc Dìm trong bể khổ đau   Nhịp mưa chưa ngừng rơi Tiếng yêu đâu mất rồi Xưa nói dùm mong đợi Nay quên hết một người   Ta muốn nuốt nắng trời Thắp trong tim lửa mới Hứng mưa đem nước tưới Cho nhạt phai sáng ngời Vừa rồi là bản phóng tác của nhạc phẩm ''Rhythm of the Rain''. Trong tiếng Việt, bài hát này có tới hai lời khác nhau. Tác giả Trường Kỳ từng chuyển ngữ bào này thành nhạc phẩm ''Tiếng buồn đêm mưa'' do hai ca sĩ Thanh Mai và Tùng Giang ghi âm trước năm 1975, với những câu mở đầu như sau : "Lắng nghe mưa rơi rơi sao trong lòng ta bồi hồi, phút chia ly ngày nào lệ tràn hoen mi. Còn nhớ chăng em khi xưa mưa rơi kề nhau nghẹn ngào, cùng mong ước sao sẽ đừng chia phôi".  Về phần mình, tác giả Lữ Liên đặt lời Việt cho bài này thành nhạc phẩm ''Nghe tiếng mưa rơi'' do Khánh Hà ghi âm, gần giống với nguyên tác ở trong tựa đề nhiều hơn là trong ca từ : "Chiều vắng em nghe mưa rơi như muôn ngàn cung nhạc buồn, rớt bên hiên gợi niềm thương đau. Lệ bỗng như mưa trong tim em chiều nay mỏi mòn, chờ nhau những đêm vắng lạnh cô đơn". Để kỷ niệm 60 năm sự nghiệp, Sylvie Vartan chẳng những phát hành một album mới mà còn xuất hiện trong khá nhiều dự án khác nhau. Tập nhạc vừa được phát hành hồi đầu tháng 10/2021 là album phòng thu thứ 50 của Sylvie Vartan bao gồm toàn là những ca khúc mới do thế hệ nghệ sĩ thời nay sáng tác cho cô (chưa kể tới hơn 20 album live và các tuyển tập chọn lọc khác). Trong số các ngòi bút trẻ tuổi ăn khách hiện thời, có khá nhiều nữ tác giả như Clara Luciani, Rose, Clarika, La Grande Sophie, về phía các nam nghệ sĩ có Joseph d'Anvers, Jean-Jacques Nyssen hay Léonard Lasry, trích đoạn đầu tiên là nhạc phẩm ''Merci pour le Regard'' (hiểu theo nghĩa : ánh nhìn nào cho tâm hồn bớt cô đơn), cũng là ca khúc chủ đề của album cùng tên. 60 năm sự nghiệp qua tập nhạc, phim tài liệu và hồi ký Đĩa nhạc thứ 50 là dịp để cho Sylvie Vartan tìm lại khán giả hâm mộ trung thành. Sau khi hoãn lại 4 lần đợt lưu diễn trong năm qua, Sylvie lại lên đường đi hát trong tháng này tại Bỉ, Thụy Sĩ, Luxembourg. Đợt trình diễn tái ngộ này sẽ trở lại Paris tại nhà hát Pleyel vào cuối mùa thu năm nay (tháng 11/ 2021). Song song với đợt biểu diễn, Sylvie Vartan còn tham gia vào một bộ phim tài liệu truyền hình Pháp kể lại cuộc đời và sự nghiệp của cô mà theo dự kiến sẽ được khởi chiếu vào cuối năm nay, muộn lắm là vào mùa xuân năm tới. Bên cạnh đó, có khá nhiều album ăn khách trước đây của Sylvie được tái bản dưới dạng đĩa nhựa 33 vòng chủ yếu dành cho giới chuyên sưu tầm, hoặc phát hành trên các mạng trực tuyến, bổ sung cho bộ vựng tập quan trọng nhất nhì của làng nhạc Pháp. Cũng như Johnny Hallyday, Sylvie Vartan đã ghi âm hơn 1.500 bài hát trong 10 thứ tiếng khác nhau và trong vòng 60 năm sự nghiệp, cô đã bán gần 50 triệu album trên thế giới. Thời điểm kỷ niệm 6 thập niên ca hát cũng là dịp để cho Sylvie Vartan ra mắt quyển hồi ký dày hơn 400 trang mang tựa đề ''Le Tourbillon d’une vie'' (Cơn lốc của một cuộc đời) của hai tác giả Christian và Éric Cazalot. Sylvie thú thật là thời gian tựa như như một cơn lốc, mới đó mà 60 năm đã trôi qua. Cô cảm thấy rất may mắn khi được theo đuổi đến tận cùng giấc mơ âm nhạc của mình trong hơn nửa thế kỷ. Với thời gian, Sylvie đã khám phá rằng cô có đến có hai gia đình : một bên là chồng con và người thân, còn bên kia là thành phần khán giả trung thành hàng chục năm qua, từ cái thuở Sylvie mới tập tễnh vào nghề. Trong những giây phút trống trải cô đơn nhất, Sylvie lúc nào cũng tìm thấy nơi người hâm mộ niềm tin không thay đổi, lời an ủi tuyệt đối. Tựa đĩa nhạc ''Merci pour le regard'' chính là lời tri ân của một đời nghệ sĩ cho bao ánh mắt trìu mến, cho tình thương vô bờ bến.
    10/16/2021
    9:00
  • Tạp chí âm nhạc - Lorde - Nhạc Pop của thế kỷ 21
    Năm 2021, nữ ca sỹ New Zealand, Lorde, tái xuất ngoạn mục sau gần 4 năm vắng bóng trên sân khấu ca nhạc. Album mới nhất Solar Power (Năng lượng mặt trời), đánh dấu cột mốc mới trên sự nghiệp của Lorde. Nữ ca sỹ vẫn mê hoặc được người nghe lẫn giới phê bình nhờ âm nhạc Pop được coi là của thế kỷ 21. Đột phá với album đầu tay Royals - 2013 Tên thật của Lorde là Ella Marija Lani Yelich-O'Connor. Nữ ca sỹ sinh năm 1996 tại thành phố Auckland, New Zealand. Mẹ cô vốn là một nhà thơ gốc Croatia và bố cô là kỹ sư xây dựng gốc Ireland, nhập cư vào New Zealand. Thành công mỉm cười với Lorde khá sớm khi cô mới 17 tuổi. Single đầu tay Royals (Hoàng Gia), được đón nhận nhiệt liệt trên đất Mỹ, trở thành bệ phóng ngôi sao cho Lorde. Tháng 6 năm 2013, đĩa đơn lọt thẳng vào Top 100 Bảng xếp hạng Billboard trụ hạng trong 9 tuần. Hiếm có nghệ sỹ New Zealand thành công như cô, và kể cả những nữ nghệ sỹ khác thành danh trên xứ sở cờ hoa. Ca khúc giản dị và mộc mạc, được đánh giá là viên kim cương sáng giá. Âm nhạc xây dựng trên nền tiếng bass đập mạnh, giọng hát Lorde nổi bật như người kể chuyện nhạc pop. Lorde hầu hết viết lời ca khúc của mình, như một nhà thơ xuất sắc truyền cảm hứng từ mẹ cô. Ban giám khảo Viện Hàn Lâm Âm Nhạc Hoa Kỳ sớm nhận ra ngay một ngôi sao triển vọng. Royals đoạt giải Grammy Ca khúc của Năm và Trình diễn Pop Solo Xuất sắc nhất năm 2014. Nhà sản xuất Joel Little đã thốt lên : “Royals đã thay đổi hoàn toàn cục diện âm nhạc lúc đó. Vốn dĩ tầng tầng lớp lớp hòa âm, tiết tấu nhanh. Và giờ chúng tôi đem tới một bài hát chỉ có tiếng hát mộc và rất ít lớp âm thanh nền”. Thậm chí, có ý kiến cho rằng album 1989 của công chúa nhạc Pop Taylor Swift học hỏi kỹ thuật sản xuất tối giản như Lorde và lối hát như đang nói. Album phòng thu tiếp theo của Lorde, Melodrama, thậm chí còn được đánh giá cao hơn cả Royals. Melodrama có phần hơi tăm tối nhưng các bản hit có giai điệu rõ nét, tiết tấu mạnh và uyển chuyển như Green Lights (Tia sáng xanh), Perfect Places (Nơi chốn hoàn hảo). Về âm nhạc, Lorde vẫn tập trung chủ đạo vào electropop, indie-pop với chất giọng tự sự nổi bật. Đáng chú ý, nữ ca sỹ được chọn là giọng ca chính trong bữa tiệc âm nhạc tưởng nhớ rocker vĩ đại David Bowie với ca khúc Life on Mars (Cuộc sống trên sao Hỏa). Gia đình rocker Bowie thực sự thích thú với Lorde và cho rằng cô gái trẻ chính là “tương lai của âm nhạc”. Lorde chứng tỏ sự trưởng thành theo thời gian nhờ độ chín trong các sáng tác và hồi tưởng ký ức đổ vỡ tình yêu trong âm nhạc. Cùng với album thứ hai, Lorde tổ chức tour lưu diễn toàn cầu có tên Melodrama. Nhưng tour lưu diễn này gặp phải trục trặc chính trị tại Israel nên phải hủy bỏ. Biểu tượng âm nhạc nữ tính và gợi cảm Bên cạnh âm nhạc, nữ ca sỹ chọn cho mình hình ảnh nữ tính và gợi cảm trước công chúng. Tên nghệ danh Lorde của cô luôn mặc định gắn với sự quý tộc và hoàng gia. Lorde luôn chứng tỏ sự tương đồng giữa hình ảnh mà cô thể hiện và tính cách ngoài đời. Cô ủng hộ phong trào feminist, cho rằng phụ nữ yếu đuối hơn nam giới một cách tự nhiên và chân thật. Về phương diện tài năng, tờ New York Times nhận định Lorde là thần đồng nhạc Pop, trong khi tờ Billboard cho rằng nữ ca sỹ là biểu tượng sáng giá của nữ giới trong rock/alternative. Lorde cho biết cô chịu ảnh hưởng lớn của nhạc jazz, soul Mỹ thập niên 1940-1950 như Billie Holiday, Etta James, và tất nhiên cảm hứng thơ ca từ mẹ cô, bà Sonja Yelich. Sự lựa chọn dòng nhạc của Lorde khá ngẫu nhiên, không dập khuôn theo gì cô thích. Sáng tác của cô xuất phát điểm từ ý thơ sau đó mới viết nhạc. Trước album Melodrama, gần như Lorde chỉ tập trung hát với chất giọng nôị lực, uyển chuyển và hơi khàn nhẹ. Nhưng sau đó, cô tập chơi piano để tăng sự đa đạng trong trình diễn. Album mới Solar Power (Năng lượng mặt trời) Trở lại với album phòng thu mới nhất Solar Power, Lorde đem tới cho người nghe trải nghiệm mới mẻ. So với hai album trước, rõ ràng đây là một Lorde điềm đạm, tươi sáng hơn hẳn. Bìa album khá gây tranh cãi vì cú shot quay phía dưới chân nữ ca sỹ. Có ý kiến chế nhạo sự sáng tạo này sexy quá lố như củ cà rốt hình thù kỳ quái. Về phần âm nhạc, ca khúc chủ đề Solar Power khá dễ chịu, nhẹ nhàng và cuốn hút. Bình luận của tờ Billboard cho ca khúc này như “vị mặn của nước biển bắn lên khuôn mặt khán giả trong ngày hè nóng nực”. Lorde khá tài tình khi cài cắm gu thẩm mỹ vào ca khúc đơn giản, tinh tế nhờ phần hoà âm có trumpet và saxophone. Các ca khúc dễ nghe khác như California, Oceanic Feeling chú trọng âm thanh acoustics (mộc) hơn là âm nhạc điện tử. Qua album này, nhà sản xuất kiến tạo một thế vững chắc cho âm nhạc Lorde. Tiết tấu chậm, giọng hát tự sự, thiên hướng pop/acoustic hơn hẳn các album electropop trước đây. Mười hai ca khúc truyền tải sự trẻ trung, tâm trạng đang yêu, tận hưởng ánh nắng mặt trời (nói đúng hơn trăn trở với biến đổi khí hậu). Nhà sản xuất Jack Antonoff biên tập các ca khúc theo hướng indie-folk, mộc mạc và phần hòa âm giàu giai điệu thu hút người nghe không thua kém giọng hát Lorde. Album đậm chất New Zealand từ khung cảnh trong video clip, có sự tham gia của nhạc sỹ kiwi Marlon Williams hát nền. Về phong cách sáng tác, album này có thể chịu ảnh hưởng của Folklore (2020) của Taylor Swift. Chất tự sự trong ca khúc The Man with the axe (Người đàn ông với cây rìu) là một ví dụ điển hình. Bài hát như một câu chuyện bất tận của Lorde trên nền guitar mộc, lớp nền âm thanh rất duyên dáng. Lorde thú nhận với khán giá về tình yêu dành cho một người đàn ông không nổi tiếng, công việc văn phòng, có mái tóc bạch kim. Nếu như Melodrama hé lộ một Lorde giận dữ vì thất tình, Solar Power chào đón hình ảnh đắm thắm đang yêu của Lorde trong Mood Ring. Ca khúc Mood Ring (Nhẫn tâm trạng) là bộc bạch những cô gái trẻ không chắc chắn cảm xúc nội tại, họ tìm chỗ trú ẩn trong những chiếc nhẫn đổi màu theo cảm xúc. Tuy không có nhiều bản hit nổi bật, Solar Power là một khám phá mới lạ của Lorde. Nó thiên về các bản tình ca, cho chú chó bị lạc (Big Star) hay với gia đình (Oceanic Feeling). Nhìn tổng thể, sản phẩm mới nhất của Lorde khá dễ chịu với người nghe về phương diện giải trí, các ca khúc có độ đồng đều, phối khí bài bản. Tờ Guardian đã bình luận “Album phòng thu thứ ba của Lorde là sự trăn trở với biến đổi khí hậu, từ chối sự nổi tiếng của ngôi sao New Zealand. Nó đạt độ chín và ngọt ngào như các ngôi sao như Taylor Swift hay Lana Del Rey”. Tựa đề album Solar Power đưa khán giả chìm ngập trong không khí mùa hè, nắng ấm ngọt ngào trong thơ ca của Lorde. Cô muốn nói với cả thế giới rằng tình yêu là điều tuyệt vời nhất. (Theo Guardian, Billboard, New York Times, AllMusic)
    10/9/2021
    9:30
  • Tạp chí âm nhạc - Các bài hát hay của Michel Sardou được dựng thành nhạc kịch
    Hơn ba năm sau khi tuyên bố giải nghệ, nam danh ca Michel Sardou đã bật đèn xanh cho dự án khai thác những bài hát quen thuộc của ông dưới dạng nhạc kịch. Một album gồm 20 bản nhạc vừa được trình làng hồi cuối tháng 09/2021, còn vở nhạc kịch sẽ ra mắt khán giả qua một vòng lưu diễn các sân khấu lớn vào mùa thu năm nay. Mượn lại tựa đề "Je vais t'aimer'' (Ta sẽ yêu em), một nhạc phẩm cực kỳ ăn khách của Michel Sardou vào năm 1976, vở nhạc kịch này tập hợp 10 diễn viên, kể lại cuộc hành trình bằng du thuyền thưởng ngoạn từ nước Pháp sang New York. Được xây dựng theo mô hình của "Mamma Mia" nhưng lần này với toàn các bài hát tiếng Pháp, vở nhạc kịch không nói về tiểu sử của Michel Sardou mà lại dùng các giai điệu của nam danh ca để phản ánh tâm trạng của các nhân vật chính : giữa hoài niệm và hiện tại, giữa quá khứ và tương lai. Thông qua những câu chuyện cá nhân, vở nhạc kịch muốn cho thấy quan hệ gắn bó giữa người Pháp với dòng nhạc Sardou. Từ các buổi văn nghệ cuối năm học, các bữa ăn gia đình cho tới đám hỏi, tiệc cưới, ít nhất là hai thế hệ khán giả tại Pháp đều có kỷ niệm riêng với Sardou, do sự nghiệp của ông trải dài trên nửa thế kỷ. Đằng sau dự án nhạc kịch "Je vais t'aimer'' là hai nhà sản xuất người Pháp Roberto Ciurleo và Franck Montel, trước kia là giám đốc điều hành các đài phát thanh nổi tiếng (NRJ Radio và Chérie FM). Khi chuyển từ ngành truyền thông sang lãnh vực kinh doanh giải trí, họ đã từng thành công với các vở nhạc kịch như "Robin des Bois" (Hiệp sĩ rừng xanh) và "Les Trois Mousquetaires'' (Ba chàng lính ngự lâm). Nhờ có nhiều năm tay nghề, họ đã nhanh chóng thuyết phục Michel Sardou cho phép khai thác các bài hát của ông. Trong số này, dĩ nhiên có bài ''La Maladie d'Amour'' của tác giả Jacques Revaux. Tác phẩm này từng được Việt hóa với ít nhất là ba phiên bản khác nhau. Nhạc phẩm ''La Maladie d'Amour'' có đến ba lời Việt Trong phiên bản thứ nhất do Elvis Phương trình bày, tác giả Khắc Dũng đã giữ lại ẩn dụ tình yêu như căn bệnh để đặt lời thành "Cơn đau tình ái''. Phiên bản thứ nhì là của ca sĩ kiêm tác giả Phạm Khải Tuấn, đặt thêm lời Việt cho ca khúc này thành nhạc phẩm ''Tình Yêu Vụt Sáng''. Lời tiếng Việt thứ ba là của tác giả Lữ Liên và con trai của ông là nam ca sĩ Anh Tú đã ghi âm thành bài hát ''Người Yêu Muôn Đời''. Trở lại với nhạc kịch Sardou, phần thực hiện đã được giao cho một êkíp người Canada : đạo diễn Serge Denoncourt, một trong những gương mặt tài ba nhất vùng Québec (từng sáng lập nhà hát Opsis) sau khi dàn dựng hơn 80 vở kịch, nay sẽ đảm nhiệm phần chỉ đạo các diễn viên. Về mặt âm nhạc, tác giả Scott Price, từng tốt nghiệp nhạc viện Toronto và hiện là giám đốc âm nhạc của thần tượng Céline Dion, sẽ là người tạo ra sợi chỉ đỏ, hầu kết nối các bài hát khá đa dạng của Michel Sardou thành một khối.   Nhớ vóc dáng tàng cây Run rẩy ngọn gió đầy Nghe tiếng thầm sóng dậy Treo lơ lửng biển mây   Con lộ trước cổng nhà Nhớ từng viên sỏi đá Phơi tim khô mùa hạ Cho đến tận đông qua   Đâu phải máu chan hoà Cuộn siết trong tim ta Tuôn nhánh sông tuổi nhỏ Trở về với mẹ cha   Cớ chi hồn băn khoăn Buồn trong ta thăm thẳm Bỗng nhức nhối âm thầm Vết chảy mòn tháng năm   Nay dòng sông tuổi già Về siết chặt tim ta Kỷ niệm đành hoá đá Đông huyết mạch, vỡ oà   Vừa rồi là lời phóng tác của nhạc phẩm ''La Rivière de notre Enfance'' (Dòng sông tuổi thơ) từng ăn khách qua phần song ca của Michel Sardou với Garou. Bản thân nam danh ca đã giải nghệ cách đầy hơn 3 năm. Vòng lưu diễn nước Pháp tựa như một lời tri ân với giới hâm mộ trung thành đã chính thức kết thúc vào tháng 4 năm 2018. Ở tuổi 74, ông muốn tận hưởng cuộc sống an nhàn sau 50 năm sự nghiệp, cho đến cái ngày ông được nghe các bài ghi âm thử cho vở nhạc kịch, dưới dạng song ca hay tam ca. Ông cảm thấy phấn khởi hào hứng vì các diễn viên có chất giọng tốt, lối hòa âm cũng rất tài tình vì biết tạo sắc thái mới mà không bóp méo giai điệu nguyên tác. (Người đã thực hiện phần hoà âm là tác giả Pierre Billon, từng sáng tác ca khúc cho Johnny Hallyday và Michel Sardou trước khi hai danh ca này xích mích với nhau). Vở kịch ra mắt khán giả sau đĩa hát Đối với đoàn diễn viên vở nhạc kịch "Je vais t'aimer", thời điểm quan trọng nhất vẫn là ngày 21/10/2021, khi tác phẩm này sẽ được diễn lần đầu tiên trên sân khấu Zénith tại thành phố Lille. Cả đoàn kịch sau đó sẽ thực hiện một đợt lưu diễn tại các nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Sau khi đi một vòng các tỉnh thành, vở nhạc kịch này sẽ ra mắt khán giả Paris với một loạt live show trên sân khấu khổng lồ của nhà hát La Seine Musicale, vùng ngoại ô Paris, kể từ ngày 20/05/2022. Để hỗ trợ cho chiến dịch quảng cáo đĩa hát và giới thiệu vở nhạc kịch này với công chúng tại Pháp, có ít nhất ba đĩa đơn đã lần lượt được phát hành. Đầu tiên hết là nhạc phẩm "La rivière de notre enfance" (Dòng sông tuổi thơ) lần đầu tiên được soạn lại cho một nhóm tam ca (Tony Bredelet, Boris Barbé và Hakob Ghasabian). Kế đến là bản nhạc ''Je viens du Sud'' (Tôi đến từ phương Nam) từng ăn khách trước đây qua giọng ca Chimène Badi, nay được Sofia Mountassir ghi âm lại. Bài hát thứ ba là một liên khúc tập hợp 8 nhạc phẩm chọn lọc trong ''tủ nhạc'' gồm toàn là các giai điệu  ăn khách của Michel Sardou ("La java de Broadway", "Être une femme", "Chanteur de jazz", "Je vais t’aimer", "Les lacs du Connemara", "En chantant", "Je vole", "Musulmanes"). Michel Sarsou đã thành công trong 50 năm sự nghiệp ca hát, cho nên thật không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi toàn bộ các bài hát trong nhạc kịch đều quen thuộc gần gũi với công chúng, còn giới yêu nhạc Pháp hẳn chắc cũng từng nghe qua ít nhất một lần trong đời.
    10/2/2021
    9:09
  • Tạp chí âm nhạc - Paris tổ chức chương trình vinh danh Johnny Hallyday
    Hơn 3 năm sau khi vĩnh biệt cuộc đời, giọng ca của Johnny Hallyday lại vang lên hôm 14/09/2021 vừa qua, tại nhà hát Accor Arena, Paris (sân khấu Bercy cũ). Vóc dáng rocker số 1 của Pháp lại xuất hiện trên màn ảnh lớn, đi kèm với một dàn nhạc giao hưởng. Với sự hỗ trợ của Tòa Đô chính Paris, nhạc trưởng Yvan Cassar cùng với Læticia Hallyday, vợ của nam danh ca quá cố, tổ chức một buổi trình diễn tưởng niệm nhằm gây qũy chống bệnh ung thư. Lấy lại tựa đề ‘‘Que je t’aime’’, một bài hát rất ăn khách trước đây của Johnny Hallyday, đêm trình diễn đã được tổ chức trong khuôn khổ một chương trình hoành tráng, trong đó có lễ khai trương một quảng trường mang tên thần tượng nhạc rock, ngay bên cạnh nhà hát Accor Arena, quận 12 Paris vào buổi sáng 14/09. Sở dĩ nơi này được chọn là vì lúc còn sống, Johnny từng nắm giữ kỷ lục biểu diễn trên sân khấu này đến 101 lần. Đàn ghita và xe môtô : hai biểu tượng của rocker số 1 Cũng trên quảng trường này, Paris đã làm lễ khánh thành một bức tượng cao 6 thước của nhà điêu khắc người Pháp Bertrand Lavier. Pho tượng này kết hợp cây đàn ghi ta Gibson với một chiếc xe môtô Harley Davidson, hai biểu tượng quan trọng, nếu không nói là gắn liền với cuộc đời của thần tượng nhạc rock Johnny Hallyday : sự nghiệp âm nhạc và hành trình xuyên Hoa Kỳ tựa như một tác phẩm điện ảnh ‘‘road movie’’.  Nếu như cả hai sự kiện này đều đi kèm với phần biểu diễn của 5 nhạc sĩ chơi lại các bài hát của Johnny Hallyday, thì quan trọng nhất trong chương trình sinh hoạt vẫn là đêm trình diễn 14/09 tưởng niệm thần tượng Johnny Hallyday. Trên sân khấu, người dẫn chương trình chính là Michel Drucker, ngoài đời là bạn thân của Johnny, hai người chỉ cách nhau có một tuổi. Một cách cảm động, Laeticia và Michel Drucker đã gợi lại những kỷ niệm với Johnny, trong khi phần biểu diễn triệu tập một dàn nghệ sĩ cực kỳ hùng hậu : phía nữ có các tiếng hát như Catherine Ringer (bài Gabrielle), Louane (bài Diego), Nolwenn (Chanteur abandonné) hay Jenifer, còn các giọng ca nam có Slimane, Calogero, tam ça Florent Pagny, Patrick Bruel và Patrick Fiori (ca khúc Vivre pour le Meilleur) hay Christophe Maé (Je te promets). Đa số các nghệ sĩ này có một điểm chung : họ đã từng tham gia nhiều album vinh danh Johnny Hallyday, do hãng đĩa Universal phát hành từ cuối năm 2017 cho tới nay. Đổi lại, hai người con lớn là Laura Smet và David Hallyday cũng như người vợ đầu tiên của Johnny là Sylvie Vartan đều vắng mặt trong chương trình tưởng niệm nam danh ca Johnny Halyday. Tầm ảnh hưởng của Johnny đối với thế hệ đàn em Cũng như nam ca sĩ Kendji đã nói (trên sân khấu anh hát bài "L'envie"), giới nghệ sĩ trẻ của Pháp thời nay đã học hỏi rất nhiều từ thần tượng nhạc rock. Bản thân anh từ thời còn nhỏ đã nghe rất nhiều bài hát của Johnny Hallyday, để rồi học cách phát huy nội lực, tập trung sức mạnh vào giọng ngực để rồi phóng ra như một mũi tên bắn trúng vào tim. Đó chính là sở trường của Johnny, ngay cả trong những nốt nhạc cao nhất, nam danh ca này luôn hát với giọng ngực, ít khi nào dùng giọng kim hay giọng óc, có lẽ cũng vì thế mà chất giọng của Johhny thường hợp với những bản nhạc hùng hồn, những giai điệu dũng mãnh … tung hoành trên sân khấu khổng lồ giữa sân vận động dành cho hàng chục ngàn khán giả. Nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ phiên bản tiếng Pháp của bài hát nổi tiếng ‘‘The House of the Rising Sun’’ có thể minh họa cho sở trường hát toàn giọng ngực của danh ca quá cố. Bài hát này được trích từ album vừa được phát hành trong tuần này mang tựa đề ‘‘Johnny Hallyday : Acte II’’. Tập nhạc này là album thứ nhì trong đó các bài hát của Johnny đã được phối lại với dàn nhạc giao hưởng, dưới sự chỉ đạo của Yvan Cassar. Album rock giao hưởng thứ nhì của Johnny  Sau khi thành công với tập nhạc giao hưởng đầu tiên (Acte I) với hơn nửa triệu album bán chạy vào giữa năm 2019, nhạc trưởng Yvan Cassar lần này đã chọn ra 12 bài hát của Johnny (những bài ít ghi âm trong studio mà chỉ hát trên sân khấu) để rồi từ đó thực hiện những bản phối khác nhau. Có thể chia các bản nhạc này thành hai loại : lối hòa âm rất mộc, giọng ca chỉ được đệm với tiếng đàn ghi ta thùng, chẳng hạn như bản nhạc ‘‘Love Me Tender’’ mà Johnny đã hát trên sân khấu để bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Elvis Presley. Bên cạnh đó, còn có các bài hát được hòa âm như nhạc phim, đặc biệt các đoạn cao trào hoành tráng phối với nguyên một bộ đàn dây. Riêng trong nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ hay bài hát ‘‘Je te Promets’’, nhạc trưởng Yvan Cassar cho biết là lúc sinh tiền Johnny Hallyday rất mê xem phim của đạo diễn người Ý Sergio Leone, vì thế từ lâu ông đã có ý tưởng đưa không khí nhạc phim cao bồi của Sergio Leone vào trong các bài hát của Johnny Hallyday, lối hòa âm trùng trùng lớp lớp gợi lên khung cảnh trời xanh bao la, đồi núi hùng vĩ, sa mạc mênh mông. Khi nam danh ca còn sống, trong cuộc hành trình cuối cùng của đoàn biker xuyên đất Mỹ, từ New Orleans đến Los Angeles, Johnny Hallyday xuất hiện trong phim tài liệu "À nos promesse : Le Dernier Voyage" vào tháng 09/2016. Trong hành trình trên các vùng đất hoang vu, Johnny Hallyday ngồi trên một chiếc môtô Harley Davidson, tựa như cưỡi ngựa phi về cuối chân trời, nơi ông tìm được niềm vui ngàn đời, rong chơi tự do kiếp người.
    9/25/2021
    9:04

Acerca de TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Sitio web de la emisora

Escucha TẠP CHÍ ÂM NHẠC, TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT y muchas más emisoras de todo el mundo con la aplicación de radio.es

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Descarga la aplicación gratis y escucha radio y podcast como nunca antes.

Tienda de Google PlayApp Store

TẠP CHÍ ÂM NHẠC: Podcasts del grupo

TẠP CHÍ ÂM NHẠC: Radios del grupo

Information

Debido a las restricciones de su navegador no es posible reproducir directamente esta emisora en nuestro sitio web.

Sin embargo, puedes escuchar la emisora en el reproductor emergente de radio.es.

Radio